seen from China
seen from China
seen from United States
seen from Ukraine
seen from United States
seen from Thailand

seen from Thailand
seen from Malaysia

seen from Netherlands
seen from United States
seen from United States

seen from France
seen from Singapore
seen from United States
seen from Russia

seen from United States
seen from United States

seen from Russia
seen from China
seen from Singapore
Artwork by Lân (19.xcv)
Thiết kế bao bì phân lân theo yêu cầu, uy tín, chất lượng bởi SEO BAOBIAB Qua Flickr: Bao bì phân lân là một phần không thể thiếu được để bảo quản sản phẩm tốt hơn. Bao bì hiển thị đầy đủ tất cả những thông tin liên quan đến sản phẩm cũng như hướng dẫn cho người dùng baobiab.com/bao-bi-phan-lan/
#lân #nghĩatrang #cemetery #statue #rivưlét (tại Nghĩa Trang Thuỵ Phương) https://www.instagram.com/p/CNqG75rLB7g/?igshid=182gfyhec4qda
Ngôi nhà cổ hiếm có ở Quảng Ngãi
Source - https://xn---quangngai-az-olb.vn/ngoi-nha-co-hiem-co-o-quang-ngai/
(Báo Quảng Ngãi)- Làng An Điềm ở xã Bình Chương (Bình Sơn) là một vùng đất nổi tiếng thời xa xưa, nay vẫn rất đặc biệt bởi tập trung nhiều di tích, kiến trúc độc đáo. Một trong những công trình nổi bật là nhà thờ họ Võ, đây là ngôi nhà cổ hiếm có trên đất Quảng Ngãi.
Tồn tại hơn 300 năm, nhà thờ họ Võ ở xóm 8, thôn An Điềm, xã Bình Chương là công trình kiến trúc cổ còn tương đối nguyên vẹn, mang đậm những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, đặc trưng trong hệ thống nhà cổ truyền thống ở Quảng Ngãi. Độc đáo kiến trúc cổ xưa Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của nghệ thuật kiến trúc cổ xưa khi đến tham quan nhà thờ dòng họ Võ ở An Điềm. Ông Võ Đức Chinh (57 tuổi), người trông coi nhà thờ, cho biết: “Nhà thờ được xây dựng cách đây hàng trăm năm, là tài sản quý giá của cha ông, là nơi để giáo dục con cháu về lòng biết ơn và nhớ về cội nguồn”. Nhà thờ có diện tích khoảng 200m2. Ban đầu nhà thờ là nhà ở của ông Võ Phước An và bà Trương Thị Tới (con trai trưởng thủy tổ Võ Mậu Công) được dựng lên khi cùng cha di cư vào đất này khai hoang lập làng và được trùng tu nhiều lần, gần đây nhất là năm 2010.
Án thờ được chạm trổ tinh xảo. ẢNH: PV
Toàn bộ kiến trúc nhà thờ được tạo dựng kết cấu truyền thống với 20 chân cột chia thành ba gian bằng gỗ quý, mái lợp ngói âm dương, tường được xây bằng chất liệu vôi vữa tam hợp. Toàn bộ khung gỗ đến các hiện vật được lưu giữ tại nhà thờ được chạm khắc tinh xảo, tỉ mỉ, công phu như vì kèo, bao vọng, án thờ, khám thờ, liễn đối, đồ thờ tự (bình phong, tam sơn, bộ tam sự, bình hoa, kính chiếu yêu, khay…). Mặt kèo chạm khắc chủ đề con dơi, mắt dơi lộ to, râu dài uốn cong, cánh dang rộng. Bao vọng được chạm lộng chủ đề long phụng, triền chi dây lá, tứ thời (tùng, cúc, trúc, mai). Khám thờ gồm khám chính thờ thần chủ thủy tổ Võ Mậu Công, hai khám thờ hai bên thờ hậu hiền, các con cháu trong tộc họ Võ. Các khám thờ được xây bằng gạch, vôi vữa tam hợp, trang trí đắp nổi, trang trí vẽ màu tinh tế gồm các đồ án lưỡng long tranh châu, long vân, hổ phù, con dơi, hoa đào, chim phụng, bờm lửa tung bay, triền chi hoa dây, các câu đối bằng chữ Hán Nôm ca ngợi công danh hiển hách của thủy tổ, dòng họ. Án thờ được làm bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, bốn mặt chạm lộng các hoa văn mang chủ đề rùa đội hạc vờn mây, lưỡng long tranh châu, triền chi hoa lá. Bình phong, tam sơn, khay, kính chiếu yêu, liễn đối bằng chữ Hán Nôm được cẩn xà cừ chủ đề hoa dây. Bộ tam sự, bình hoa được đúc bằng chất liệu đồng trang trí các chủ đề long, lân, hổ phù, hoa mai. Tất cả các đồ án trang trí nêu trên thể hiện sự chúc phúc, ước muốn bình an trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, ý nghĩa truyền nối thế hệ, phúc lai viên mãn. Thông qua các nguồn sử liệu, kiến trúc, kỹ thuật chế tác đồ gỗ và đồ thờ tự có thể nhận định, nhà thờ họ Võ có niên đại giai đoạn cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. đây là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, độc đáo hiếm có ở Quảng Ngãi. Qua đây cho thấy, nghề chạm khắc gỗ truyền thống đạt đỉnh cao trình độ kỹ thuật, giá trị thẩm mỹ và óc sáng tạo của người nghệ nhân lúc bấy giờ. Nhớ về nguồn cội Anh Võ Đức Chinh cho biết: Hằng năm, vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch dòng họ tổ chức lễ giỗ Tổ. Con cháu trong dòng họ ở khắp mọi miền trong cả nước tụ họp về nhà thờ. Dịp này gia phả của dòng họ được lấy ra xem, lịch sử dòng họ được nhắc đến nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với bậc tiền nhân, đồng thời nhắc nhở con cháu tiếp nối truyền thống tự hào của dòng họ. Theo truyền ngôn của người dân trong làng, vào thế kỷ XVII, thủy tổ Võ Mậu Công từ vùng đất Nhị Hà (Hà Nội) cùng ba người con Võ Phước An, Võ Phước Miên (Minh), Võ Phước Triều (Ngọc) cùng vào An Điềm và các vùng lân cận khai hoang, lập đất (Ngọc Trì, Tân Phước, Bình Minh, Trà Bình), sinh cơ lập nghiệp đến nay đã được 12 đời kế tiếp nhau. Nhớ ơn những người tạo dựng ra vùng đất đang ở và được mọi người trong vùng suy phục, nhân dân lấy tên các ông đặt tên làng An Điềm, Ngọc Trì, Tân Phước. Dòng họ Võ là một dòng họ có truyền thống hiếu học, giàu lòng yêu nước. Thủy tổ Võ Mậu Công từng đậu kỳ thi Hội thời Hậu Lê, sau đó được bổ dụng làm quan ở các tỉnh Quảng Bình, Hải Dương. Đời thứ 7, các bà Võ Thị Kiều (vợ ông Đàm Thanh), Võ Thị Đệ (vợ ông Đoàn Như Thiện) là những nữ kiệt anh tài, những nhà yêu nước tích cực trong phong trào Cần Vương (1885-1888), phong trào Duy Tân (1908-1916). Đời thứ 9, nhà cách mạng Võ Đức Tần (tức Võ Tần) là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Bình Sơn năm 1954, Bí thư xã Bình Chương(4.1948 – 6.1951), nhà yêu nước Võ Thuận (Bí thư xã Bình Chương (6.1951 – 6.1952)… Thế hệ tiếp nối thế hệ khẳng định tộc họ Võ đã sản sinh những người con tài năng, đức độ, hiếu học, giàu lòng yêu nước thương dân. DI HÀ-P.LÝ . Nguồn: Baoquangngai.vn
Ngôi nhà cổ hiếm có ở Quảng Ngãi
Ngôi nhà cổ hiếm có ở Quảng Ngãi
(Báo Quảng Ngãi)- Làng An Điềm ở xã Bình Chương (Bình Sơn) là một vùng đất nổi tiếng thời xa xưa, nay vẫn rất đặc biệt bởi tập trung nhiều di tích, kiến trúc độc đáo. Một trong những công trình nổi bật là nhà thờ họ Võ, đây là ngôi nhà cổ hiếm có trên đất Quảng Ngãi.
Tồn tại hơn 300 năm, nhà thờ họ Võ ở xóm 8, thôn An Điềm, xã Bình Chương là công trình kiến trúc cổ còn tương đối nguyên vẹn, mang đậm những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, đặc trưng trong hệ thống nhà cổ truyền thống ở Quảng Ngãi. Độc đáo kiến trúc cổ xưa Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của nghệ thuật kiến trúc cổ xưa khi đến tham quan nhà thờ dòng họ Võ ở An Điềm. Ông Võ Đức Chinh (57 tuổi), người trông coi nhà thờ, cho biết: “Nhà thờ được xây dựng cách đây hàng trăm năm, là tài sản quý giá của cha ông, là nơi để giáo dục con cháu về lòng biết ơn và nhớ về cội nguồn”. Nhà thờ có diện tích khoảng 200m2. Ban đầu nhà thờ là nhà ở của ông Võ Phước An và bà Trương Thị Tới (con trai trưởng thủy tổ Võ Mậu Công) được dựng lên khi cùng cha di cư vào đất này khai hoang lập làng và được trùng tu nhiều lần, gần đây nhất là năm 2010.
Án thờ được chạm trổ tinh xảo. ẢNH: PV
Toàn bộ kiến trúc nhà thờ được tạo dựng kết cấu truyền thống với 20 chân cột chia thành ba gian bằng gỗ quý, mái lợp ngói âm dương, tường được xây bằng chất liệu vôi vữa tam hợp. Toàn bộ khung gỗ đến các hiện vật được lưu giữ tại nhà thờ được chạm khắc tinh xảo, tỉ mỉ, công phu như vì kèo, bao vọng, án thờ, khám thờ, liễn đối, đồ thờ tự (bình phong, tam sơn, bộ tam sự, bình hoa, kính chiếu yêu, khay…). Mặt kèo chạm khắc chủ đề con dơi, mắt dơi lộ to, râu dài uốn cong, cánh dang rộng. Bao vọng được chạm lộng chủ đề long phụng, triền chi dây lá, tứ thời (tùng, cúc, trúc, mai). Khám thờ gồm khám chính thờ thần chủ thủy tổ Võ Mậu Công, hai khám thờ hai bên thờ hậu hiền, các con cháu trong tộc họ Võ. Các khám thờ được xây bằng gạch, vôi vữa tam hợp, trang trí đắp nổi, trang trí vẽ màu tinh tế gồm các đồ án lưỡng long tranh châu, long vân, hổ phù, con dơi, hoa đào, chim phụng, bờm lửa tung bay, triền chi hoa dây, các câu đối bằng chữ Hán Nôm ca ngợi công danh hiển hách của thủy tổ, dòng họ. Án thờ được làm bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, bốn mặt chạm lộng các hoa văn mang chủ đề rùa đội hạc vờn mây, lưỡng long tranh châu, triền chi hoa lá. Bình phong, tam sơn, khay, kính chiếu yêu, liễn đối bằng chữ Hán Nôm được cẩn xà cừ chủ đề hoa dây. Bộ tam sự, bình hoa được đúc bằng chất liệu đồng trang trí các chủ đề long, lân, hổ phù, hoa mai. Tất cả các đồ án trang trí nêu trên thể hiện sự chúc phúc, ước muốn bình an trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, ý nghĩa truyền nối thế hệ, phúc lai viên mãn. Thông qua các nguồn sử liệu, kiến trúc, kỹ thuật chế tác đồ gỗ và đồ thờ tự có thể nhận định, nhà thờ họ Võ có niên đại giai đoạn cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn. đây là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, độc đáo hiếm có ở Quảng Ngãi. Qua đây cho thấy, nghề chạm khắc gỗ truyền thống đạt đỉnh cao trình độ kỹ thuật, giá trị thẩm mỹ và óc sáng tạo của người nghệ nhân lúc bấy giờ. Nhớ về nguồn cội Anh Võ Đức Chinh cho biết: Hằng năm, vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch dòng họ tổ chức lễ giỗ Tổ. Con cháu trong dòng họ ở khắp mọi miền trong cả nước tụ họp về nhà thờ. Dịp này gia phả của dòng họ được lấy ra xem, lịch sử dòng họ được nhắc đến nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với bậc tiền nhân, đồng thời nhắc nhở con cháu tiếp nối truyền thống tự hào của dòng họ. Theo truyền ngôn của người dân trong làng, vào thế kỷ XVII, thủy tổ Võ Mậu Công từ vùng đất Nhị Hà (Hà Nội) cùng ba người con Võ Phước An, Võ Phước Miên (Minh), Võ Phước Triều (Ngọc) cùng vào An Điềm và các vùng lân cận khai hoang, lập đất (Ngọc Trì, Tân Phước, Bình Minh, Trà Bình), sinh cơ lập nghiệp đến nay đã được 12 đời kế tiếp nhau. Nhớ ơn những người tạo dựng ra vùng đất đang ở và được mọi người trong vùng suy phục, nhân dân lấy tên các ông đặt tên làng An Điềm, Ngọc Trì, Tân Phước. Dòng họ Võ là một dòng họ có truyền thống hiếu học, giàu lòng yêu nước. Thủy tổ Võ Mậu Công từng đậu kỳ thi Hội thời Hậu Lê, sau đó được bổ dụng làm quan ở các tỉnh Quảng Bình, Hải Dương. Đời thứ 7, các bà Võ Thị Kiều (vợ ông Đàm Thanh), Võ Thị Đệ (vợ ông Đoàn Như Thiện) là những nữ kiệt anh tài, những nhà yêu nước tích cực trong phong trào Cần Vương (1885-1888), phong trào Duy Tân (1908-1916). Đời thứ 9, nhà cách mạng Võ Đức Tần (tức Võ Tần) là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy Bình Sơn năm 1954, Bí thư xã Bình Chương(4.1948 – 6.1951), nhà yêu nước Võ Thuận (Bí thư xã Bình Chương (6.1951 – 6.1952)… Thế hệ tiếp nối thế hệ khẳng định tộc họ Võ đã sản sinh những người con tài năng, đức độ, hiếu học, giàu lòng yêu nước thương dân. DI HÀ-P.LÝ . Nguồn: Baoquangngai.vn
Mùi Tết xưa - Báo Quảng Ngãi điện tử
Mùi Tết xưa - Báo Quảng Ngãi điện tử
(Báo Quảng Ngãi)- Trời se lạnh trong nắng hanh vàng. Khắp phố phường, không khí rộn ràng chuẩn bị đón Tết khiến lòng người càng thêm náo nức. Bất giác đâu đây qua con phố nhỏ, thoang thoảng mùi hương thơm của mứt gừng… gợi nhớ về Tết xưa.
Ngày ấy ở quê tôi, cuộc sống người dân còn thiếu thốn đủ bề, nhưng Tết đến, ai cũng cố gắng sắm sửa, lo cho gia đình một cái Tết đủ đầy, tươm tất. Mấy thùng gạo nếp dành dụm, tích trữ từ vụ lúa tháng mười, được mang ra sàng sảy, hong khô lại cẩn thận rồi xay giã, làm ra mẻ gạo trắng ngần. Đám lá dong sau vườn nhà cũng đã xanh mướt, tốt um, đủ để gói vài chục bánh chưng, bánh tét. Ngày gói bánh chưng, người lớn, trẻ con quây quần vui không tả xiết.
Tết là dịp gia đình sum vầy, được thưởng thức những món ăn ngon mẹ nấu. Ảnh: NGUYỄN NHÃ
Chẳng hiểu sao thời ấy, mùi Tết rõ đến thế. Khi bắc nồi luộc bánh cái mùi thơm kỳ diệu của khói bếp, củi cháy, lá dong cứ tan trong không gian, bám chặt vào người. Cũng chính trong mùi khói ấy, bọn trẻ như tôi dễ dàng nhận biết được hương xôi nếp, hương thịt muối, hương cá kho mằn mặn, hương gạo mới dẻo thơm… Lũ trẻ chúng tôi được các bà, các mẹ phân công chạy lon ton làm những việc nhỏ, như phơi củ kiệu, tỉa đu đủ… Làm thì ít mà đứa nào cũng tranh nhau, mỗi đứa một tay, cái không khí chuẩn bị cho ngày Tết cũng vì vậy mà thêm rộn ràng. Cái chợ xóm Cầu nhỏ bé quê tôi trở nên đông vui, nhộn nhịp, đầy ắp những sản vật từ các vùng lân cận tụ hội về. Mẹ tôi tranh thủ đi một vòng quanh chợ, mua câu đối đỏ, bánh đậu xanh, những phong bao lì xì, khăn ấm cho ông bà và vài bộ quần áo mới cho các con. Vui nhất và đợi chờ nhất vẫn là đêm giao thừa, thời khắc chuyển sang năm mới. Những đứa trẻ diện bộ quần áo mới, ông thì soạn lại bài văn cúng giao thừa, bố chăm chút cho bàn thờ gia tiên, bà và mẹ chuẩn bị mâm ngũ quả… Những đứa trẻ con vui đùa trước sân, ai ai cũng trên môi hiện lên những nụ cười chào năm mới. Thời ấy làm gì có pháo hoa, có chương trình nghệ thuật hoành tráng như bây giờ. Khi ông thắp hương xong cũng là lúc năm mới đến, mọi người gửi đến nhau những lời chúc năm mới sức khỏe, an lành. Chúng tôi đi cùng ông ra đình làng hái lộc. Ngày ấy chưa có điện, nên đêm 30 tối đen như mực, ai ra đường cũng phải xách theo cái đèn dầu. Dưới làn mưa xuân giăng mắc như tơ mành nối bầu trời và mặt đất, tiếng chào hỏi, chúc mừng năm mới xôn xao đường quê. Những ngày sau Tết mới thật là vui. Cả nhà đi chúc Tết anh em họ hàng, bà con làng xóm, đi lễ chùa. Thời ấy, tôi vẫn nhớ những trò chơi dân gian tổ chức ở sân làng. Người thì xem trò chọi gà, thanh niên trai gái tuổi mới lớn thì bắt đôi để chơi trò đập niêu, những đứa trẻ chơi trò bịt mắt bắt dê, nhảy lò cò… Mùi Tết – cái mùi không có tên trong từ điển tiếng Việt, không thể miêu tả được bằng lời, nhưng nó là loại mùi bám chặt vào ký ức của mỗi người dân Việt. Dù biết cái mùi Tết ấy qua bao năm tháng đã khác xưa nhiều, nhưng với tôi, ký ức về mùi của Tết xưa còn vẹn nguyên, là khoảnh khắc gia đình sum vầy. Thế nên, mỗi khi Tết đến, Xuân về, trong lòng lại nôn nao. Nguyễn Nhã . Nguồn: Baoquangngai.vn
Mùi Tết xưa - Báo Quảng Ngãi điện tử
Source - https://xn---quangngai-az-olb.vn/mui-tet-xua-bao-quang-ngai-dien-tu/
(Báo Quảng Ngãi)- Trời se lạnh trong nắng hanh vàng. Khắp phố phường, không khí rộn ràng chuẩn bị đón Tết khiến lòng người càng thêm náo nức. Bất giác đâu đây qua con phố nhỏ, thoang thoảng mùi hương thơm của mứt gừng… gợi nhớ về Tết xưa.
Ngày ấy ở quê tôi, cuộc sống người dân còn thiếu thốn đủ bề, nhưng Tết đến, ai cũng cố gắng sắm sửa, lo cho gia đình một cái Tết đủ đầy, tươm tất. Mấy thùng gạo nếp dành dụm, tích trữ từ vụ lúa tháng mười, được mang ra sàng sảy, hong khô lại cẩn thận rồi xay giã, làm ra mẻ gạo trắng ngần. Đám lá dong sau vườn nhà cũng đã xanh mướt, tốt um, đủ để gói vài chục bánh chưng, bánh tét. Ngày gói bánh chưng, người lớn, trẻ con quây quần vui không tả xiết.
Tết là dịp gia đình sum vầy, được thưởng thức những món ăn ngon mẹ nấu. Ảnh: NGUYỄN NHÃ
Chẳng hiểu sao thời ấy, mùi Tết rõ đến thế. Khi bắc nồi luộc bánh cái mùi thơm kỳ diệu của khói bếp, củi cháy, lá dong cứ tan trong không gian, bám chặt vào người. Cũng chính trong mùi khói ấy, bọn trẻ như tôi dễ dàng nhận biết được hương xôi nếp, hương thịt muối, hương cá kho mằn mặn, hương gạo mới dẻo thơm… Lũ trẻ chúng tôi được các bà, các mẹ phân công chạy lon ton làm những việc nhỏ, như phơi củ kiệu, tỉa đu đủ… Làm thì ít mà đứa nào cũng tranh nhau, mỗi đứa một tay, cái không khí chuẩn bị cho ngày Tết cũng vì vậy mà thêm rộn ràng. Cái chợ xóm Cầu nhỏ bé quê tôi trở nên đông vui, nhộn nhịp, đầy ắp những sản vật từ các vùng lân cận tụ hội về. Mẹ tôi tranh thủ đi một vòng quanh chợ, mua câu đối đỏ, bánh đậu xanh, những phong bao lì xì, khăn ấm cho ông bà và vài bộ quần áo mới cho các con. Vui nhất và đợi chờ nhất vẫn là đêm giao thừa, thời khắc chuyển sang năm mới. Những đứa trẻ diện bộ quần áo mới, ông thì soạn lại bài văn cúng giao thừa, bố chăm chút cho bàn thờ gia tiên, bà và mẹ chuẩn bị mâm ngũ quả… Những đứa trẻ con vui đùa trước sân, ai ai cũng trên môi hiện lên những nụ cười chào năm mới. Thời ấy làm gì có pháo hoa, có chương trình nghệ thuật hoành tráng như bây giờ. Khi ông thắp hương xong cũng là lúc năm mới đến, mọi người gửi đến nhau những lời chúc năm mới sức khỏe, an lành. Chúng tôi đi cùng ông ra đình làng hái lộc. Ngày ấy chưa có điện, nên đêm 30 tối đen như mực, ai ra đường cũng phải xách theo cái đèn dầu. Dưới làn mưa xuân giăng mắc như tơ mành nối bầu trời và mặt đất, tiếng chào hỏi, chúc mừng năm mới xôn xao đường quê. Những ngày sau Tết mới thật là vui. Cả nhà đi chúc Tết anh em họ hàng, bà con làng xóm, đi lễ chùa. Thời ấy, tôi vẫn nhớ những trò chơi dân gian tổ chức ở sân làng. Người thì xem trò chọi gà, thanh niên trai gái tuổi mới lớn thì bắt đôi để chơi trò đập niêu, những đứa trẻ chơi trò bịt mắt bắt dê, nhảy lò cò… Mùi Tết – cái mùi không có tên trong từ điển tiếng Việt, không thể miêu tả được bằng lời, nhưng nó là loại mùi bám chặt vào ký ức của mỗi người dân Việt. Dù biết cái mùi Tết ấy qua bao năm tháng đã khác xưa nhiều, nhưng với tôi, ký ức về mùi của Tết xưa còn vẹn nguyên, là khoảnh khắc gia đình sum vầy. Thế nên, mỗi khi Tết đến, Xuân về, trong lòng lại nôn nao. Nguyễn Nhã . Nguồn: Baoquangngai.vn