Không biết các anh chị ghé duyên về sống ở vùng đất Saigon vào lúc nào? Quê tôi ở BếnTre từ trước năm 1954. Ba tôi sau khi vào làm sở Bưu Điện mà hồi xưa hay gọi là nhà giây thép. Lần đầu tiên, Ba tôi nhận nhiệm sở ở Vũng Tàu không có mang gia đình theo cùng. Má tôi và gia đình nhỏ tá túc ông nội tôi ở Bến Tre, cách nhà ông ngoại Phương Khanh có vài ba căn phố trên đường từ sở thú ra đến bến sông. Muốn tới bến sông, phải băng qua ngã tư. Đến ngã tư, rẻ trái sang Cầu Cá Lóc về Giồng Trôm, rẻ phải ra chợ Bến Tre và Tòa Bố ( tên gọi Văn Phòng tỉnh lỵ thời xưa). Từ đầu ngã tư này đến cửa vườn thú ( sau này xây trường trung học Bến Tre) là nhà ông nội tôi xa hơn nữa là hồ Trúc Bạch. Sau khi Nhật đảo chánh Tây, ba tôi thất nghiệp cho tới Tây trở lại Đông Dương sau thế chiến. Lúc đó, nhà nước mới triệu hồi ra làm việc. Ba tôi lên Saigon nhận nhiệm sở vào năm nào tôi không rỏ, từ đó tôi trở thành dân Sài Gòn. Ba tôi làm công chức tuy là có đồng vào, đồng ra, nhưng chạy tiền mua nhà rất vất vả, đành ở thuê. Tôi theo gia đình di chuyễn từ Nancy qua Khánh Hội xưa có tên là Xóm Chiếu, nằm trong quận Tư, thành phố Saigon. Sau đó, từ Khánh Hội qua Lê Lai gần nhà thờ Huyện Sĩ, rồi quay trở lại Khánh Hội. Năm 1963, tôi mới dời nhà về Gò Vấp, Gia Định, và ở tại đó cho đến 1975. Cư ngụ từ nhà sàn, sang nhà gạch, đến nhà phố, đời tôi cũng đã gởi gắm nhiều về Saigon. Khi trí nhớ tôi bắt đầu lúc tôi 8 tuổi, hình ảnh Saigon càng ngày càng ghi đậm trong lòng tôi. Theo thời gian, từ lúc đón nhận người Bắc di cư năm 1954, đến giặc Bình Xuyên, rồi Đệ Nhất Cộng Hòa qua với 2 lần đảo chánh, một lần ném bom tại dinh Tổng Thống . Và từ sau năm 1963, tiếp theo nền đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ, Saigon trầm luân trong cuộc chiến, thay đổi chính phủ, không lúc nào yên, nổi bật nhất vào những năm 1968, 1972, Saigon rất nhiều thay đổi, theo sự nhọc nhằn với chiến tranh. Sai gòn trở mình do biến đổi xã hội nhanh chóng. Người Mỹ mang một nền văn minh mới lạ đôi khi va chạm với nền đạo lý truyền thống của người Việt. Đời sống giao động theo chiến tranh và kinh tế lạm phát mãi tận đến ngày không bao giờ quên là ngày 30 tháng 4 năm 1975. Lúc đó, tôi mới đành từ giã Saigon. Saigon không phai mờ trong trí óc. Saigon một thời là nhịp thở của tôi.
Có lẽ thời gian sau năm 1954 là thời gian mà Sai gòn chuyễn mình mạnh nhất về xã hội, kinh tế, giáo dục và văn hóa. Con người và nếp sống tự do ngắn ngủi trong chừng 20 năm rồi đành giả biệt, mang rất nhiều vương vấn, thương nhớ Sài gòn. Sài gòn có từ hơn 300 năm, Sài gòn trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm, trở mình từ buổi sơ khai do di dân từ đời chúa Nguyễn, rồi Nhà Nguyễn qua nhiều triều đại cho đến khi trở thành thuộc địa của Pháp. Dầu với hình thức thể chế nào đi nữa, người dân Saigon chưa bao giờ phủ nhận là mình không phải là người Việt Nam mặc dầu với kinh tế, giáo dục, tiếp cận Âu Tây sớm hơn. Có nhiều cơ hội để miền Nam tách ra thành một quốc gia độc lập, nhưng người Miền Nam và dân Saigon vẫn một lòng với chúa, với vua, giử trọn đạo cương thường. Saigon từ xưa vốn không phải là nơi đặc biệt dành cho người Nam Kỳ mà là nơi có nhiều sắc dân từ lâu sinh sống chung đụng hài hòa: người miền Nam, miền Bắc, miền Trung, người Hoa, người Miên , Chàm, Ấn Độ, Pháp. Ai muốn giữ ngôn ngữ, tiếng nói của mình thì giữ, không có sự đồng hóa. Người Tàu, người Việt (Bắc, Trung), người Pháp ngay cả người Miên, Ấn Độ vẫn có trường học dạy tiếng của họ.Tại Saigon có đủ chùa, đình, miểu, nhà thờ, mosque hồi giáo. Họ sống hòa đồng quý mến nhau, không gây gắt kỳ thị.
Ai đã từng ở Saigon, thở không khí Saigon, sống giữa những trưa hè oi ả. Tiếng ve sầu kêu vang suốt mùa, lặng nhìn những cơn mưa rào nặng hột trên mái hiên, những con đường lầy lội, phập phồng chiếc bong bóng nước, hay sau buổi tan trường khi cơn mưa chợt đến, đành đội mưa mà đi, tuy quần áo ướt sủng mà lòng phơi phới hân hoan không cần ô dù, cứ để mặc nước tuông vào người. Nhớ hoài cái cảm giác lâng lâng, cái cảm nhận sâu sắc về cơn mưa rào trong lòng người Saigon.
Có những lúc, cả nhà ngồi quay quần bên chiếc Radio nghe tuồng cải lương với tình tiết ly kỳ, những màn thoại kịch bi hài: Vũ Đức Duy, Dân Nam, Kim Cương, Túy Hồng, tay phe phẩy quạt muỗi giữa khí trời nóng nực , tha hồ mà ngậm ngùi rơi lệ với tuồng Lá Sầu Riêng hay Đời Cô Lựu. Lại có bữa khác, hồi họp nghe Huyền Vũ truyền thanh trận banh quốc tế. Sao mà mê tơi như là mình thấy cầu thủ đang vẽ vời những đường banh ngoạn mục trên sân cỏ. Trên những con đường phố xưa, sau buổi cơm chiều, bắt ghế bố ngồi hóng mát trước sân, cùng hàng xóm chia xẻ nỗi buồn vui. Tình Saigon là thế
Lòng rộn ràng được cô chú dẫn đi xem một tuồng cải lương, một buổi đại nhạc hội say sưa thả hồn theo màn trình diễn. Hay trốn học ghé vào những rạp xi-nê tình tứ trong góc hẻm Lê thánh Tôn chéo chợ Bến Thành (rạp Lê Lợi thì phải), rạp Eden trong hẻm Eden, rạp hát Catina trong ngỏ hẻm vắt ngang đường Charner (Nguyễn Huệ) và đường Catina ( Tự Do). Lạ lùng, đó những rạp xiné nhỏ trang trí khá sang trọng chứa ít người. Người xem ăn mặc chỉnh tề như vào những rạp có tiếng là sang: Rex, Majestic, Casino. Có gì vui bằng vào rạp Cathay gần Ngân Hàng Quốc Gia, mặc quần tiều (xà lỏn) ướt sủng vì mưa, ngồi chồm hõm trên ghế cho khô quần, say mê xem phim “ Canon de Navarone”. Thời đó thiếu gì rạp hát chiếu với giá 5 đồng 2 phim, đặt biệt là phim hay đứt nửa chừng. Mình ngồi ngáp dài chờ nối phim. Chỉ thấy ở những rạp bình dân ở Saigon.
Tuổi thơ Saigon có gì vui ? nhiều lối chơi lắm: trong nhà, nhất là trời mưa: Bắn thun, bắn bì, diễn tuồng. Ngoài sân: tụm ba tụ bảy với hàng xóm, trời không mưa : đá banh, táng trổng, đánh đáo, chơi bông vụ, đá cầu lông, bắn bi chai, đá dế, đá cá lia thia, tạc hình, nút phén đập dẹp, bao thuốc lá, ném đá trên lưng người cổng. Trời mưa: tắm mưa ngoài phố, trượt xi măng láng, bắt cá bằng lồng bẩy chuột trong cống dẫn nước từ sông Saigon chảy ngược vào.v,v.
Trèo lên nóc nhà thả diều, bẩy chim khoen, bắt dế cơm ở Ngân Hàng Quốc gia bên kia cầu Mống lúc trời tối. Đánh lộn với trẻ con của khu phố khác. Cờ bạc: Hốt lú, bánh bài, tạc hay khẻ tường, đổ xí ngầu ăn vò viên ăn bò bía. Ban đêm: u mọi, bỏ khăn, chờ xe taxi qua cộng số xe bài cào để thay phiên nhau cổng. Khi nào tôi cố nhớ lại viết một bài về” tuổi thơ của tôi ở Khánh Hội, Saigon”
Ăn hàng vặt ở Saigon thì muôn hình vạn trạng: tuổi thơ được vài đồng mỗi buổi sáng cha mẹ cho là vui rồi, số tiền đó vừa ăn vừa dè sẻn mới có được những trò chơi ở trên (nhất là trò chơi cờ bạc). Vài đồng thì ăn được cái gì hở? một tô cháo huyết, cháo đậu xanh vớí đường thẻ, cháo lòng. Một gói xôi đậu xanh và dừa nạo, bọc bánh phồng, xôi bắp kiểu Nam, kiểu Bắc, cốm dẹp trộn dừa, bánh mì chang sốt cà, một đỉa cơm tấm bì nhỏ, bách ướt với một nửa bánh đậu chan nước mắm đỏ thẫm thật cay, khác với bánh cuốn thanh trì chờ lâu vì tráng bánh, một tô bánh hoành thánh nước lèo, một đĩa ốc gạo với nước mắm chanh, một đĩa ốc len sào dừa, một tô bánh canh nhỏ, một đĩa bánh tầm bì, bánh bèo bì. Chắc tạm đủ, thêm những lặt vặt khác: như kẹo kéo, keo đậu phụng kẹp bánh tráng, một chiếc chuối nướng bọc nếp, một chiếc chuối nướng trên lò than, đập dẹp chan nước dừa. Một miếng khô mực nướng, khô cá đuối nướng, khô mực nướng tráng mõng chấm tương ớt. Một trái cóc chẻ ngâm cam thảo, một trái ổi, một miếng soài tượng ăn với mắm ruốc hay muối ớt, một miếng khóm ngọt.v.v. Còn chè thì đủ loại: táo soạn, chè thưng, chè trôi nước, chí mè phủ, chè đậu xanh, chè đậu xanh bột bán, chè đậu đỏ, sương sa hột lựu nước dừa, đá nhận chan nước siro, cà rem cây đậu xanh đậu đỏ…v.v.. anh chị nhớ mệt nghĩ.
Ở Saigon, hàng sách báo tự do mở khắp nơi, nhật báo, tuần báo nguyệt san, báo Xuân. Nhà sách lớn nhỏ, cho đến những quán sách vĩa hè đông đúc người đọc. Chờ báo Hồng Kong của Kim Dung, tiểu thuyết mới xuất bản của Quỳnh Dao là một trong món ăn tinh thần đầy lôi cuốn của người dân Saigon. Món ăn tinh thần phong phú đến đổi mỗi một góc phố Saigon, đều có hiệu sách thuê. Cứ thuê mà đọc khỏi phải mua.
Sau năm 1954, phòng trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, từ báo chí, đến sách vỡ, tiểu thuyết, truyện dịch. Số nhà văn , nhà thơ tăng lên gắp bội. Nhạc sĩ, ca sĩ cũng vậy, ta có nhiều nhạc phẩm tuyệt vời còn lưu lại đến bây giờ. Phòng trà, quán cà phê ca nhạc bỏ túi, phong trào nhạc trẻ và những danh ca ngoại quốc len lỏi vào tâm hồn giới trẻ: Sylvie Vartan, Francois Hardy, Christophe, the Beatle, the Animal, Elvis Presley, Pat Boone v.v.
Chỉ có Saigon mới có những ngày Giáng Sinh thật tưng bừng. Nó đến như ngày vui quốc lễ, không phân biệt tôn giáo, ai cũng vui vẽ đón mừng. Những hang đá làm bằng giấy bồi, những ngôi sao có ren tua thấp sáng báo tin Chúa ra đời, những chiếc thiệp với lời chúc nồng ấm. Phố xá đông nhiều hơn, mua bán nhiều hơn, dân bát phố đổ ra đường nhiều hơn, chen chân mà đi. Hàng quán lung linh ánh đèn chớp, đóng cửa trễ hơn. Đúng là rộn ràng một nỗi vui. Đêm Giáng Sinh, con đường dẫn đến nhà thờ Đức Bà đông hơn bao giờ hết. Tan lễ rồi, ai vội vả về nhà ăn reveillon thì về. Ai thưởng thức phố khuya thì lang thang trên những con đường đang vào cơn ngủ muộn.
Nhớ nhiều những rộn ràng cả tuần lễ trước Tết, khí hậu êm dịu, mát lạnh . Hàng hóa tuông về thành phố. Những quày hàng dưa hấu lớn có, nhỏ có. Gian hàng treo những ngọn đèn khí đá. Cây cảnh, quất tắc, mai, đào đươm nụ chờ đến ngày tết. Hàng quán bánh mứt, pháo đỏ, rượu hồng chưng bày làm tăng nét yêu kiều chào đón mùa xuân mới. Những bài hát Xuân lập đi lập lại trên đài phát thanh không ngừng nghỉ, những phong pháo, hàng vải lụa là mới tinh. Những cánh thiệp xuân treo dài trong quán báo nhỏ. Đi chợ hoa Nguyễn Huệ là một thú vị, nhưng có người lớn theo cùng vì sợ lạc.
Sai gòn trong tâm tư của tôi không bao giờ xóa hết cho đến khi tôi rời xa Sài gòn năm 28 tuổi và lưu lạc hơn 40 năm. Tôi nghĩ anh chị dầu là người Bắc , người Trung, người Hoa đã sống ở Saigon, tâm hồn anh chị thế nào cũng chất chứa nổi nhớ nhung Saigon. Không phải chỉ tổng quát Saigon, mà từng con đường, từng khu phố, ngỏ hẻm, từng công viên, từng chiếc lá me, lá chuồn chuồn tung bay trước gió, từng khu chợ, từng món ăn chơi trên vỉa hè, món chè món cháo không nơi nào mà không lưu dấu chân kỷ niệm của các anh chị. những địa danh quen thuộc đến tận bây giờ: Đa Kao, Tân Định, Chợ Cũ, Bàn Cờ, Xóm Chiếu, Khánh hội, Vĩnh Hội, Tân Thuận, Bình Tây, Chợ lớn, Phú Lâm, Cầu kho, Đồn Đất, Ba son, Bến Bạch Đằng, Chợ Đủi, Chợ Quán, Ngã Sáu, Ngã bảy, Ngả tư Bảy Hiền, Phú Thọ, Phú Nhuận, Hàng Xanh, Ngã ba Chú Ía.v,v
Làm sao quên được tiếng rao hàng lanh lảnh giữa đêm. Tiếng mỳ gỏ ở cuối ngỏ. Tiếng súc sắc tẩm quất. Tiếng gánh hàng kẻo kẹt giữa đêm về sáng. Tiếng chân ngựa thồ gỏ từng nhịp bước trên đường phố. Rất thú vị bước lang thang dưới ánh đèn đường héo hắc khi thành phố Saigon yên giấc, ngủ vùi trong đêm.
Ngày xưa, anh chị còn nhớ, khi tan trường về, nhìn những tà áo dài trắng và chiếc nón lá của nữ sinh phất trước gió. Từng nhóm nhỏ, họ đi bộ hay xe đạp về hướng trung tâm thành phố như những cánh bướm trắng yêu kiều bay từng đàn nhỏ trên cánh đồng xanh và chỉ một thoáng sau đó, có vài giờ những tà áo trắng tan trong ngày nắng vội, không còn nữa. Sài gòn, ôi đẹp làm sao giây phút ngắn ngủi đó.
Hình ảnh ấy vẫn còn vương vấn mãi không biết cho đến bao giờ. Bây giờ đã ngoài 70, mà ký ức xa xưa vẫn còn lãng vãng đâu đây.
Tôi cố tìm những bài viết và hình lưu niệm về một Saigon xa xưa mà giờ đây chỉ còn là hồn thu thảo, bóng tịch dương. Tôi gửi đến anh chị hi vọng lưu dấu trong anh chị cho một chút gì để nhớ để thương.
Những loạt bài này dài lắm, có thể lập đi lập lại nhiều lần do nhiều tác giả theo dòng lịch sử những con người sống một thời, hay của nhiều thời, góp vào một Sài Gòn dấu yêu.
Chỉ được mong anh chị kiên nhẫn đọc chầm chậm những bài sắp tới, vừa thả hồn mơ về một vùng ký ức xa xưa phai mờ dần.
Hi vọng làm anh chị nhớ lại Saigon. Rồi chợt bổng thấy mình chơi vơi chìm đắm một cái gì thân yêu mà mình thờ ơ đánh mất.
Ôi Saigon của tôi !! Xin dành một phút suy tư về một nơi chốn đã và đang chìm dần vào một bóng tối thâm thẩm của niềm nhớ. Saigon xưa chỉ còn hư ảo
Mà thật, Saigon bây giờ khác, khác hơn Saigon xưa nhiều nhiều lắm.