Ông Nội và Cội nguồn.
Hôm nay là ngày thứ 4, kể từ ngày ông nội rời bỏ chúng tôi, sau gần chục năm chống chọi với căn bệnh ung thư vòm họng. Ông đi một mình trong đêm, không cho ai biết, sau khi uống xong hớp nước cuối cùng từ tay người vợ trẻ - lặng lẽ, cô đơn, tự trọng và thẳng hàng như một đường kẻ, như chính cuộc đời ông. Tôi không biết khóc ông, người trong làng bảo thế. Phong tục của người Tày làng tôi quy định, khi khóc tang thì phải kể về người chết và những kỉ niệm của mình với người đã chết. Tôi chỉ ngồi im lặng và lau nước mắt, trong khi những người khác xung quanh đang cất tiếc khóc hời. Thoáng chốc, tôi chợt so sánh những bài khóc đó với những bài khóc được thuê bằng đôi chục nghìn trong nhiều đám tang người Kinh. Hơn cả những bài điếu văn hoa lá, cuộc đời của ông tôi dần hiện lên chân thực, sinh động và đầy màu sắc từ những bài khóc như thế. Và quan trọng hơn, ở tuổi 36, sau nhiều đổ vỡ và tự tìm kiếm mình, tôi nhận ra mình thuộc về nơi đâu.
Trong tiếng khóc của bà trẻ - em gái út của ông nội, tôi như nhìn thấy lại chàng thanh niên 17 tuổi năm nào, với ý chí kiên định, vượt qua lí lịch của gia đình có người cha làm giúp việc cho Quan Tỉnh trưởng người Pháp, đã đăng ký ghi danh đi bộ đội. Tôi cũng nhìn thấy người đàn ông cương nghị đó, trở về từ chiến trường với những di chứng thân thể, từ chối vào Hợp tác xã và trở thành người duy nhất của cả Mường Chang, cô đơn và kiên định trên con đường tự lao động nuôi sống gia đình và vợ con. Ông đã chăm chỉ hơn tất cả và chứng minh cho cơ chế hợp tác xã ngày đó thấy sự đúng đắn của ông bằng một ngôi nhà ngôi nhà sàn 7 gian gỗ lim to đẹp nhất mường; những vườn cam vàng ruộm trĩu trịt gánh gồng, tấp nập thương lái; những ao sâu; những đàn gà béo múp chật chuồng, ngủ gật trên những cành cam rồi chết vì tắc mỡ trong ruột; những đàn trâu bò thả trên núi béo căng cả năm; một nhà kho lúc nào cũng đầy ắp thóc ngô; và những chuyến buôn trâu xuyên mường xuyên bản.
Trong tiếng khóc của bà Liệng - chúng tôi gọi vợ hai của ông như thế, tôi đã thấy một người đàn ông tình nghĩa mấy chục năm bôn ba khắp nơi chạy chữa bệnh tật cho người vợ tào khang của mình, nhưng cũng rất “đàn ông” khi thẳng thắn yêu cầu vợ và con cái cho mình được lấy một người phụ nữ khác về cùng ông bầu bạn. (Khi bà tôi đau ốm nhiều năm, không thể làm được chức năng của một người vợ, chăm sóc con cái và quán xuyến gia đình). Người đàn ông đó quân tử tới độ không chỉ cho người đàn bà đi bên mình một danh phận, mà còn chăm lo cho cả những người thân và gia đình của bà. Người đàn ông đó, cho tới tận phút cuối cùng luôn thẳng thẳn và chân thành, dù lối sống thành thực đó khiến ông phải chịu nhiều búa rìu điều tiếng. Dù lựa chọn một mối quan hệ bí mật như cách của nhiều người đàn ông trẻ bây giờ có thể cho ông sự bình yên và dễ chịu hơn.
Trong tiếng khóc của mẹ tôi, một cuốn phim khác dần hiện lên quen thuộc như câu chuyện mẹ thường kể cả trăm lần mỗi khi nói về ông. Tôi nhìn thấy một đứa bé đỏ hỏn vừa chào đời, được ông đón tay và đặt tên là Thuý - một cái tên không Tày chút nào - theo lời nhiều người bạn của tôi bình luận. Ông bảo Thuý trong Hán Việt vừa là nước, vừa là màu xanh. Ông muốn cháu gái mệnh Thuỷ sẽ mềm mại và mạnh mẽ như nước, xanh trong và tĩnh lặng như nước. Ông hãnh diện về đứa cháu gái đầu tiên giữa một bầy con trai, cháu trai lộc ngộc. Ở một cảnh khác, tôi lại thấy một căn nhà sàn sáng rực như một ngôi sao giữa thung lũng. Trên căn nhà đó, những cái đèn Măng Sông đốt bằng dầu hoả được bật tàn canh tới sáng để đứa bé sợ bóng tôi thôi không khóc mỗi đêm. Ngày đó, với người miền núi, dầu hoả và muối quý hơn cả bạc trắng. Phân đoạn cuối cùng trong hành trình lời hát của mẹ, tôi thấy một người đàn ông già, đạp chiếc xe đạp (mà cả xã chỉ có một mình ông có) địu đứa bé trên vai, đạp xe từ Mường Chang về thị xã. Ngày mai, mẹ con nó hết kỳ nghỉ đẻ, nó theo mẹ lên trường để dạy học...
Trong tiếng của lòng mình, tôi tìm câu trả lời cho câu hỏi của bản thân: Mình là ai? Là đứa bé được sinh ra với định mệnh như là một phần của Mường Chang, với dòng máu 100% Tày chảy trong người; hay là một thiếu phụ 36 tuổi, đi hết gần 1/2 quãng đời, đắm mình trong những miền văn hoá khác, vẫn luôn không biết rõ cái Identity của mình là gì? Đôi khi, cảm giác của một hybrid khiến cho người thiếu phụ thấy mình ngơ ngác với những giá trị Tày xung quanh, nhưng lại không thể hoàn toàn thoải mái với những giá trị phổ thông thuần Việt, và lại càng trở nên lóng ngóng trước những giá trị hiện đại Phương Tây. Giữa những câu chuyện của những người xung quanh khóc ông nội, tôi dường như hiểu ra rằng: nguồn cội của tôi là nguồn cội của những Hybrids - những đứa con lai giá trị. Chúng tôi đã được lai kể từ khi cụ nội tôi - một thanh niên Tày của đất Mường Chang cổ, không hiểu bằng cách nào đã có thể thông thạo cả chữ Hán Việt và tiếng Pháp, như thế nào đã trở thành một viên chức của chính quyền lúc đó và đón nhận con nuôi người Kinh; chúng tôi đã được lai kể từ khi ông nội tôi - một người đàn ông Tày đã vượt qua những ranh giới vô hình của văn hoá và định kiến, vượt qua Mường Chang, vượt qua Hợp tác xã, vượt qua tư duy nông nghiệp, vượt cả tư duy đơn thuần của những người đàn ông để sống trọn vẹn với bản năng của con người, một cách tử tế nhất.
Tối hôm qua là buổi tối cuối cùng chúng tôi chào từ biệt ông với nghi lễ dâng những cành hoa giấy, bánh trái và rượu tự làm. Chúng tôi không còn kể lể, than khóc. Chúng tôi đội lên đầu những mảnh vải lụa tơ tằm thô, vàng ruộm màu kén tằm, xếp hàng nối đuôi nhau đi ba vòng quanh ông tôi, thủ thỉ dặn dò từ biệt ông. Hoa giấy xếp đầy 7 gian nhà sàn. Này là hoa của họ Mế (bao gồm các gia đình thông gia), kia là hoa của họ Pò (bao gồm các gia đình anh em bên dòng họ của ông), đây là hoa Nhàng (hoa của các cô con gái), nữa kia là hoa Nhả Nhàng (hoa của các cháu gái, em gái)... Ông chúng tôi ngập trong hoa. Văn khấn tiếng Tày trộn lẫn với âm thanh rì rầm khấn vái tiếng Việt. Rể Kinh, dâu Tày ngồi bên nhau, nước mắt cùng tràn mi cúi lạy. Tôi như nhìn thấy ông tôi mỉm cười hài lòng - nụ cười của ngày nhận được tin đứa cháu gái của ông nhận được học bổng đi du học, như nụ cười đón tay đứa chắt nội đầu tiên...
Tôi đã ngủ một giấc trọn vẹn, không mộng mị sau khi đưa ông về nhà mới, giấc ngủ sâu đầu tiên kể từ 6 tháng nay: thanh thản và hài lòng trọn vẹn với gia đình. Tôi đã ăn một bữa trưa đầm ầm với các anh chị em họ mà đã 6, 7 năm rồi, chúng tôi mới có dịp ngồi với nhau. Có người giọng nói đã mang âm điệu vùng Thanh Nghệ, hoặc mang âm điệu miền Nam. Chị họ tôi giọng lảnh lót “mịe mịe” vẫn biết cách vấn khăn tang theo phong tục truyền thống, dặn tôi phải cúi lạy các bà khi các bà đội khăn tang cho. Chúng tôi vẫn nói với nhau về những Tết tháng 7, tháng 5, những bãi soi mùa lạc, những trò chơi ngày nhỏ...
Bằng một cách nào đó, tôi nghĩ rằng, những sản phẩm lai tạo tự nhiên, theo lẽ tự nhiên sẽ bền bỉ và mạnh mẽ nhất. Cụ tôi, và giờ là ông nội tôi đã sống chọn lọc và lai tạo giá trị như thế - những cuộc đời mạnh mẽ, thành thực và ra đi thanh thản với các giá trị đó. Đến chúng tôi, chúng tôi cũng đang sống cuộc đời của những con lai trong một thế giới phẳng mà không phẳng này. Và chúng tôi biết mình sẽ mạnh mẽ, trung thực và thanh thản với các giá trị lai mà chúng tôi đang có. Tạm biệt ông./










