Dự án đầu tay của Bách để khởi động ước mơ trở thành đạo diễn phim.
KIROKAZE
i don't do bad sauce passes
No title available

pixel skylines
Mike Driver
One Nice Bug Per Day

Kiana Khansmith

No title available
taylor price

Origami Around
Game of Thrones Daily

Janaina Medeiros
will byers stan first human second

blake kathryn

titsay

★
we're not kids anymore.
Cosimo Galluzzi
wallacepolsom
tumblr dot com

seen from United Kingdom

seen from United Kingdom

seen from United States

seen from United Arab Emirates

seen from United States

seen from Maldives

seen from Bangladesh
seen from United Kingdom
seen from Italy
seen from Chile
seen from Denmark

seen from Türkiye
seen from Germany
seen from United Arab Emirates
seen from Türkiye

seen from United States

seen from Malaysia
seen from Italy
seen from United States

seen from Malaysia
@tweehoang
Dự án đầu tay của Bách để khởi động ước mơ trở thành đạo diễn phim.
Những hẹn hò từ nay khép lại...
Ở Tumblr, ta tìm thấy Yahoo360 của tuổi 20s, tìm thấy Facebook thuần chất từ những ngày sơ khởi và Zalo của những ngày chưa bị các mẹ bán hàng online chiếm đóng.
Năm mới, tinh thần mới, năng lượng mới, kế hoạch mới. Mình sẽ chuyển sang dùng Tumblr nhiều hơn. Cảm ơn những bạn bè Facebook và Zalo đã và sẽ theo mình sang đây. Mình biết đó là những người muốn đọc những thứ mình viết, những thứ mang hơi thở của cuộc sống trần tục này và tinh thần của người viết, những thứ không long lanh sắc màu như các bức ảnh, những thứ khiến người ta phải tưởng tượng và hình dung nhiều hơn. Cảm ơn các bạn.
Từ tháng này, mình sẽ up dần lên đây những đoạn trích trong tiểu thuyết dã sử mình đang viết dở dang nhiều năm nay. Hy vọng các bạn đọc và cho mình đánh giá và cổ vũ để mình viết tiếp cái dang dở này.
Đối với Facebook và Zalo, mình chỉ có thể mượn lời của một bài hát viết về Trịnh để nói lời chia tay "Những hẹn hò, từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây. Đóa hoa vàng, mỏng manh cuối trời, như một lời chia tay".
Ngày mai,
Con về nhà người ta
Đêm nay nằm bên bà
Nghe gió giật ào ào sau rừng cọ.
Lạc lõng trong mưa,
Những tiếng chim “Pò ơi” khắc khoải
Gọi con về ký ức tuổi thơ.
Tuổi thơ con là những giấc mơ
Là ranh giới mong manh còn - mất
Bà níu bên còn bằng bàn tay gầy guộc
Bằng tháng năm dài trên những vết chân chim.
… Mặt cầu ao loang loáng ánh trăng đêm
Tiếng trẻ khóc đói sữa cũng tràn trên mặt ao lênh láng
Bầu vú già khô cạn
Nước mắt bà hoà lẫn nước cơm…
Những mùa trăng dềnh dành trôi qua
Những mùa trăng dềnh dàng trở lại
Trẻ dềnh dàng lớn như quả sung, quả ngoã
Từ thân gỗ xù xì nghiêng bên mép bờ ao.
Bà xót lòng thương gọi “Thỏ con”
Thỏ con bé bằng nắm cơm nắm cháy
Thích lặng yên nghe sáo nài cậu thổi
Chỉ lê chân khi múa điệu cò bay.
Thỏ con bé bằng bao đựng dao
Bà phải dắt theo thắt lưng khi lên nương xuống ruộng,
Khi thỏ ngồi hát trong tán cọ
Khi mặt trời tháng năm rực đỏ...
Mình bà cắm cúi lưng nương…
Đêm tháng mười ở núi rét lâm râm
Chỉ ngọn lửa và điệu “Nòn đay” thao thức
Bà hát mãi lời ru bất tận...
Đến khi,
Cây mận đắng bên nhà tỉnh giấc
Lũ chim sẻ bên nhà tỉnh giấc
Mặt trời sau dãy Khao Piao tỉnh giấc
… Câu hát cài vách nứa để đêm sau.
Năm tháng lùi qua mau
Như chiến tranh rồi cũng phải dừng – bà bảo thế
Bố mẹ đón con, con thành người phố thị,
Biết uống sữa bò trong cốc thuỷ tinh.
Như thiếu nữ người Kinh
Không nghe điệu “Nòn Đay” khi đi ngủ
Không những đêm tháng mười bập bùng bên bếp lửa
Và cầu ao loang láng ánh trăng đêm.
Ký ức ngọt ngào, ký ức không quên
Nửa đời con thuộc về ký ức
Trong giấc mơ hàng đêm con vẫn nghe réo rắt
Tiếng sáo nài, tiếng bà gọi “Thỏ con”
Bước chân con đã đặt đến muôn nơi
Chỉ duy nhất nơi đây thăm thẳm miền cổ tích
Chỉ một bà tiên với lời ru bất tận
Và mỗi tuần trăng là một chuyện nhiệm màu...
Ngày mai con sẽ thẳng lưng
Bước xuống cầu thang
Bước qua vườn cải.
Phía sau con,
Một dáng còng khom khom
Ôm trọn tuổi thơ con chờ đợi
Phía sau con,
Bếp nhà sàn khói vương mái cọ
Và chín bậc cầu thang chao nghiêng
Before Sunrise.
Có ai đó đã nói rằng, nghệ thuật đích thực là thứ nghệ thuật chạm được vào đời sống. Một tác phẩm nghệ thuật đích thực là thứ mà khi đọc nó, nghe nó, xem nó, người ta có thể thấy 1 phần câu chuyện của mình trong đó. Và do đó, nó trở nên đáng giá bởi nó thuộc về tất cả chúng ta, của công chúng, và thuộc về mỗi cá nhân. Và tôi tin, "Before Sunrise - Before Sunset - Before Midnight" đã làm được điều đó. Thứ mà bất cứ ai trong chúng ta, khi xem, tôi đồ rằng, sẽ tìm thấy một chút của mình trong đó: Tuổi trẻ, tình yêu, đam mê, và những xúc cảm - thứ mà chúng ta đang tự đánh mất dần cũng với thời gian, sự từng trải, và tuối tác.
Sự thành công của bộ phim có lẽ đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng của những người thực hiện. Một bộ phim chỉ duy nhất có hai nhân vật, không có phân chia tuyến nhân vật theo kiểu thiện - ác, hạnh phúc- đau khổ, đúng - sai, hơn - thua... Tóm lại, nó không bị lồng ghép quá nhiều ý nghĩa - thứ mà hàng ngày, hàng giờ, những nhà tư tưởng, nhà đạo đức, quản lý đang cố gắng nhồi nhét vào đầu công chúng thông qua các hình thức giải trí khác nhau. Nó đơn giản là những đoạn hội thoại triền miên, không có nội dung chủ đề nhất định, không có ý định giải cứu thế giới hay định hướng điều gì. Chỉ là những câu chuyện mà bất cứ những người trẻ, những đôi trai gái nào cũng có thể nói khi họ tán tỉnh nhau. Nó giống như thể, khi bạn thương một ai đó, đối với bạn, dù câu chuyện họ nói là gì thì bạn vẫn muốn lắng nghe. Dù bạn có là ai, họ cũng không cần quan tâm, bởi khi ngồi bên nhau, trò chuyện với nhau, hai người đều thấy thời gian trôi quá vội. Những câu thoại tưởng không thể đơn giản hơn, tỷ như:
- Khi còn học đại học anh đã từng học tiếng Pháp, rồi khi anh phải xêp hàng mua vé tàu tại Paris, thì anh lại buộc miệng nói tiếng Anh
- Anh đã từng nhìn thấy người ông đã khuất của anh sau đám tang ông ấy.
- Em không thích cái cách mà bố mẹ em định hướng sự nghiệp của em
- ....
nhưng cũng không thể đẹp hơn:
- Em ghét cách đây 3000km, chiến tranh đanh xảy ra. Tại sao người ta phải làm thế?...
- Em biết đấy, người ta vẫn tin có linh hồn vĩnh cửu...
Thế nhưng, các chàng trai, tôi cá rằng, trong đời các bạn, ít nhất 1 lần các bạn sẽ phải huyên thuyên như thế trước một cô gái bạn thích. Bạn nói chỉ để kéo dài thời gian bên cô ấy, chỉ để muốn nghe cô ấy nói, nhìn cô ấy cười và ngắm cô ấy vuốt tóc. Và các cô gái, đừng nói với tôi rằng, các bạn chưa bao giờ cúi đầu vuốt tóc e thẹn khi trò chuyện với 1 chàng trai bạn thích, chưa bao giờ cố gắng nghĩ ra chuyện gì đó để nói chỉ để nghe chàng trai đó cười và mím môi cười điệu.
Đôi bạn đó cũng chỉ như thế. Nhưng có lẽ để diễn thành công một vai diễn với những đoạn hội thoại đơn giản và phổ biến thế không phải dễ. Người diễn viên cần có một chiều sâu nội tâm, đủ để thấm thía được rằng, ta là nhân vật và nhân vật là ta. Tôi vẫn nghĩ 2 người bạn diễn hẳn sẽ phải mất rất lâu để có thể dứt mình ra khỏi "phim" để trở về với đời. Bởi nhìn ánh mắt, nụ cười của họ trao nhau, tôi thực sự không dám tin cả 2 thực sự chỉ là "diễn".
- Hãy nói cho anh biết em ghét điều gì nhất.
-..... Xong, giờ đến lượt anh, điều gì khó chịu nhất với anh?
Hinh như, theo cách nghĩ của riêng tôi, các đôi tình nhân cũng chỉ có thể bắt đầu từ những câu chuyện như thế.
Bộ phim khá hấp dẫn đối với các cảnh quay bởi hầu hết những khung cảnh đẹp và lãng mạn của thành phố Vienna. Nhưng cảnh mà tôi cho rằng đắt nhất của bộ phim là cảnh 2 người dắt tay nhau đi dạo trong nghĩa địa. Đó là thứ khiến cho câu chuyện tình yêu này khác với muôn vàn câu chuyện tình yêu khác trên đời, dù tất cả những người yêu nhau đều dắt nhau đi dạo, đều tản tính nhau với những cách như thế. Họ cùng nhau nói về cái tình yêu, sự hồi sinh, cái chết, sự đầu thai, và cả chiến tranh. Những ý nghĩ nhân văn, những quan niệm sống đẹp được họ phô bày như một "cái bẫy" đối với bạn tình một cách hết sức tự nhiên và đáng yêu. Hơn bao giờ hết, tôi tin, những giây phút đó là thật lòng (tức là không ai cố tình lừa ai) và cũng xuất thần của cả hai. Giây phút mà theo các nhà tâm thần học, 3 chất drenaline, dopamine và serotonin xuất hiện giữa các "đốt mấu" của hệ thống thần kinh, khiến con người ta cảm nhận được sự hấp dẫn từ đôi phương, sự ham muốn gắn kết với người đó nhiều hơn tất cả những người khác trên thế giới. Và khi đó, trừ những kẻ biến thái, tất cả con người bình thường đều mong muốn thu hút sự chú ý của đối phương nhiều nhất.
Kết thúc của Before Sunrise, họ, 2 người đó, tưởng như sẽ have a sex để kết thúc chuyến du ngoạn ở một nơi lãng mạng và tự do, thì tuyệt nhiên không. Tôi thực sự ấn tượng với cuộc đối thoại của họ về vấn đề này. Cô gái nói rằng, cô không muốn anh ấy, sau khi trở về sẽ kể với bạn bè về thành tích tán tỉnh được một cô gái Pháp và dã ngủ với cô ấy ra sao (như cái cách mà đám đàn ông trẻ thường làm). Còn anh chàng thì nói rằng, anh muốn có 1 kỷ niệm đẹp với cô để mong chờ ngày gặp lại. Nỗi lo lắng của cô gái, giống như tất cả những người con gái khác trên đời, luôn muốn người tình của mĩnh sẽ tôn trọng và nhớ về mình với những cảm xúc chân thành nhất. Và chàng trai, tôi tự nghĩ, có thể cũng giống như các chàng trai khác, luôn muốn giữ quan hệ đối với người đàn bà mà họ thực sự yêu thương.
Phần 1 Before Sunrise kết thúc trong sự hẫng hụt. Và giống như Cún, tôi cảm nhận được sự mong manh của hạnh phúc, cũng như những điên rồ và đam mê của tuổi trẻ với cái kết thúc nửa vời này. Ho chia tay nhau và hẹn ngày này năm sau gặp lại nơi đây. Tôi cứ cảm thấy trái tim mình cũng chòng trành theo kết thúc ấy. Tuổi đôi mươi, tôi chắc chắn, bạn chẳng thể mong chờ gì nhiều hơn 1 lời hẹn. Và đó là điều mà ai cũng phải trải qua.
Tôi nghĩ rằng, nhà sản xuất có thể hoàn toàn kết thúc câu chuyện ở đây, bởi vì, nếu đi tiếp, hai người họ có còn đẹp được như thế không? Khi mà cuộc sống, trách nhiệm và bao nhiêu thứ xung quanh sẽ bào mòn họ?
Xuân, Hạ, Thu, Đông rồi lại Xuân.
Một năm gần đây tôi thường gọi những ngày như hôm nay là ngày bị “sập cầu dao”. Tức là khi giữa những hăm hở, đua chen với công việc học hành, cơn bệnh bỗng đột ngột xuất hiện. Nó nhấn chìm tôi trong những cơn chòng trành, nghiêng ngả, bải hoải đến tưởng chừng như không còn đủ sức nhấc chân tay, hay thậm chí là thở mạnh. Nó nhắc nhở, cảnh báo tôi về những ranh giới cần phải được thiết lập trong cơ thể này. Những lúc đó tôi thường chỉ nằm im trên giường, uống trà nóng, nhìn nắng nhảy múa trên những bức tường, hoặc lắng nghe tiếng mưa rơi trên nền xi măng “tạch tạch”, hoặc nhìn lũ kiến dưới nền nhà thong thả kéo đuôi nhau đi lại. Đầu trống rỗng, nằm im và quán niệm nhịp thở cho đến khi giấc ngủ ào đến, cuốn tôi vào sự nghỉ ngơi thực sự. Mỗi lần như thế, sau khi tỉnh dậy, tôi thường xem lại “Xuân, Hạ, Thu, Đông, rồi lại Xuân”. Một trong số những thứ luôn khiến tôi bình tâm và thiết lập lại cho mình những ranh giới nghiêm khắc không được phép vượt qua.
Hãy xem người ta nói gì về bộ phim này: "Lấy bối cảnh quay hẹp, là một ngôi chùa nằm chênh vênh trên mặt nước. Ở đó có vị sư già và người đệ tử của mình. Thế nhưng, đạo diễn Kim Ki Duk gần như đưa ra một định đề phản nghịch lại tư tưởng chủ đạo trong triết học phương Đông. Liệu có phải “nhân chi sơ, tính bản thiện” hay không?" Dòng nhận xét này cứ lặp đi lặp lại ở tất cả các trang bình luận phim như một ý kiến chủ đạo và nó khiến tôi bật cười khi liên tưởng đến những giai thoại văn học ở ta. Ví dụ như, chuyện một nhà văn khá nổi tiếng đã bật cười khi thấy mọi người bình giảng chuyện của ông quá hay, khác hoàn toàn với chủ định ban đầu của ông khi đặt bút viết; hay chuyện tác giả của Mùa Lạc đã “gà bài” cho con để bình luận về tác phẩm của mình và bài viết cuối cùng chỉ được điểm trung bình với lời phê đại ý “không đúng dụng ý của tác giả”…
“Xuân, Hạ, Thu, Đông rồi lại Xuân”, giống như các tác phẩm khác của Kim Ki Duk, rất ít lời thoại, hạn chế tối đa sự biểu cảm của ngôn từ mà tập trung vào các góc quay và kỹ năng diễn xuất của diễn viên. Có thể do đó, các câu chuyện của ông thường mang nhiều màu sắc và hàm nghĩa. Và các hàm nghĩa đó sẽ tùy thuộc vào tâm trạng, quan niệm sống và gu thẩm mỹ của mỗi người xem mà được gán cho phim. Với tôi, chuỗi hành động của vị sư trẻ: từ cái trò nghịch ngợm vô thức (buộc đá vào các con vật), phải lòng cô gái đến tá túc tại chùa, cho đến việc bỏ chùa theo cô (mang theo những thứ giá trị nhất của ngôi chùa là con gà trống và bức tượng), rồi giết vợ vì ghen, trở về chùa để trốn chạy, bị bắt rồi lại quay trở lại chùa tiếp tục tu tập là một chuỗi của những hành động Nhân – Quả nhưng cũng là Tiền Định. Nếu thất tình lục dục là thứ tạo nên con người và khiến ta khác con vật, thì nó chính là thứ tạo nên Tiền Định trong cuộc đời mỗi con người. Nếu chu kỳ của sự tiền định đó là một vòng tròn khép kín như Sinh –Lão-Bệnh-Tử, như Xuân-Hạ-Thu-Đông thì con người, cũng như các sinh vật khác đều vận hành theo những quy luật chung đó. Và đi hết một vòng, người ta vẫn quay trở về cái gốc. Giống như chàng trai trẻ, trải khắp thất tình lục dục của đời người vẫn quay trở về am nhỏ - nơi chàng đã dứt bỏ nó ra đi. Cái tiền định của đời người cũng như nhịp điệu quay vòng của thời gian, sẽ không ai giải thích được tại sao, giống như những tranh luận vô cùng: con gà hay quả trứng có trước. Kết thúc của vạn vật là mùa xuân hay mùa đông? Kết thúc của một con người là cái chết hay sự sinh nở?
Chiều qua, trong lúc ngồi xem bộ phim này, tôi chợt nhớ đến trò chơi “lọc chữ” của thầy giáo dạy tiếng Anh ngày trước. Tức là thầy cho một câu chuyện với khoảng chục câu. Học trò cứ thế lần lượt loại từng chữ mà không làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của các câu trong bài. Cuối cùng, các câu chuyện đôi khi chỉ còn 1 đến 2 từ kiểu như “Tôi ăn”, “Tôi chơi”… Bỏ đi chữ “ăn” hoặc chữ “chơi” thì câu chuyện còn gì?. Với bộ phim này, tôi nghĩ, kể cả khi dẹp bỏ hết những câu thoại ngắn ngủi kiểu như thế, bộ phim vẫn cứ là nó khi chỉ còn hình ảnh, âm thanh. Không một cảnh quay thừa. Cảnh nào cũng rất thơ, rất đẹp. Từ góc máy dường như chỉ được đặt nguyên một góc khi quay cái am nhỏ trải qua bốn mùa, cho đến những cảnh hai diễn viên chính yêu nhau và bỏ trốn…
Mỗi lần xem xong bộ phim này, tôi lại tự nhủ mình, rằng: chậm thôi, an nhiên thôi, đừng vội. Vì rằng, nếu đã là quy luật, là tiền định, thì đi nhanh, đi chậm rồi cũng sẽ về 1 nơi. Rằng, kể cả nếu có lọc bỏ hết các chữ, chỉ còn lại một đại từ “Tôi”, hay động từ “thở”, thì câu chuyện vẫn có ý nghĩa, chí ít là trong cái vòng tròn khép kín. Rằng, thay vì mong chờ mùa đông qua đi thì đợi mùa đông trở lại, bởi chắc chắn nó chỉ có thể trở lại khi mùa xuân đến rồi đi.
Và thế là, sau những lần như thế, tôi lại bình tâm đợi… Mùa Đông.
Câu chuyện Hahndoft
Đó là một thị trấn cổ nhỏ bé do người Đức xây dựng từ thế kỷ 17 ở phía Nam Úc, cách thành phố mình đang sống 30km. Mình đã đặt chân đến đó trong những ngày Đông lạnh buốt đầu tiên ở nước Úc. Có lẽ sẽ chẳng bao giờ mình quên cái cảm giác nằng nặng nơi hơi thở (có thể bởi khí lạnh và mưa phùn) trong suốt cuộc hành trình.
Bạn H luôn bảo mình là người sống bằng ký ức. Đúng thế chăng khi mà hình như chỉ duy nhất mình (trong số những người đi cùng đoàn) đã đem theo ký ức đến Hahndoft.... Niềm thương nhớ phố cổ ĐV của mình cứ đầy lên theo từng ngôi nhà, góc phố mình dừng lại. Cảm xúc đó giống như của 1 người đàn bà nhìn đứa con của hàng xóm cầm chiếc còng gà trên tay, nhõng nhẽo, nhỏng nhảnh mà nhớ thương đứt ruột đứa con bé nhỏ của mình ở nhà với đĩa cơm trắng với muối.
Phố cổ Đồng Văn của mình là những ngôi nhà chình tường đất nện để năm tháng đi qua, nước mưa chảy xuống, tạo thành những cái rãnh sâu hoắm. Ngồi trong nhà nhìn ra, ngày nắng có thể thấy cả một khoảng trời trong xanh, trời mưa có thể cảm nhận được hơi nước bay luẩn quất trong từng gian nhà. Đồng Văn của mình giữa những ngày lạnh nhất của mùa đông là nhiệt độ có nơi đã xuống đến 4 - 5oC, nước đã đóng băng. Để lấy được nước rửa mặt buổi sáng, người ta phải đập vỡ mảng băng mỏng trên mặt nước, rồi đun qua cho tan giá; là những cung đường cao nguyên mờ hơi nước, nơi thỉnh thoảng vài dáng đàn bà bé nhỏ, mong manh, gò lưng cõng rau, cõng ngô vượt dốc; là dinh thự Vương Chí Sình chìm trong biển sương với vài ngọn sa mộc chọc thủng biển sương mênh mông đó như cột mốc để phân chia ranh giới thực - hư; là gió thổi ào ào trên những đỉnh đèo, trên những con đường ướt sũng sương muối. Vậy mà má các cô gái Mông vẫn cứ trắng hồng lên như trêu ngươi sương gió...
Hahndoft - nơi mình đứng bay giờ là những ngôi nhà mang kiến trúc Châu âu cổ kính, nhỏ bé, nhưng kiên cố với vài thế kỷ đi qua. Kiêu hãnh, khinh bạc nhìn cuộc sống hiện đại đi ngang qua mình như thể 1 cô công chủa nhỏ được thừa hưởng gia sản kếch xù từ thời ông bà để lại. Đến Hahndoft, khách du lịch không phải nhìn thấy cảnh câu kéo khách của dân bản địa, họ sẽ tận hưởng cảm giác du ngoạn trọn vẹn khi không phải nhìn thấy những cảnh tượng thương tâm, rách rưới, để rồi mủi lòng, sụt sịt, mất tiền. Nancy bảo mình là: Hahndoft chỉ đẹp về mùa thu và mùa hè bởi nó có những con đường ngập đầy lá vàng, lá đỏ, những cánh đồng thu hoạch dâu tây dành cho du khách và các món ăn (tất nhiên là cả bia) truyền thống của Đức (chắc đã lai Úc khá nhiều). Mình lại nhớ đến Phố cổ Đồng Văn của mình, 4 mùa đều đẹp và đáng yêu với mùa xuân nhộn nhịp lễ hội, mùa hè rực rỡ cỏ hoa, thu-đông ấm áp rộn ràng các chợ phiên...
Bạn bè mình bảo: dân Úc thân thiện lắm, đặc biệt là người Adelaide. Có thể đúng, cũng có thể chỉ là vẻ bề ngoài. Điều này mình cần thời gian để thẩm định. Nhưng hãy nhìn cái cách mà người Đồng Văn mình chia sẻ cùng khách...
... Trời lạnh quá, cháu uống chén rượu nhé.- Rượu bà nấu thơm quá nhưng sáng nay cháu bị đang bị cảm lạnh.- Ầy dà, sao không nói ngay. Đợi bà lấy cho mấy cái hoa Đinh Hương ngậm. Hôm qua ông già cũng bị cảm. Bà cho ngậm Đinh Hương là khỏi đấy...... ... "Uống một chén rượu cho ấm cái bụng đã nhé." Cứ như thế, vậy là cái cô khách - là mình ấy đã không thể đếm được một ngày mình đã nhận được bao nhiêu lời mời thân tình, bao nhiêu chén rượu nồng ấm như thế. Rượu nấu bằng ngô, ủ men lá rừng, chưng theo kiểu cách thủy, pha chút mật ong. Uống vào cứ ngọt lừ từ đầu lưỡi xuống cuống họng. Mềm môi, mềm giọng. Câu chuyện cứ thế mà tuôn trào như cái triết lý hết sức đơn giản đời thường của người Mông "Uống 1 chén nói bằng cái đũa, uống 2 chén nói bằng cái chuôi dao, uống 3 chén nói bằng cái ống điếu... Uống cho cái rượu vào bụng, cái thật không còn chỗ phải chui ra...".
Điều mình ấn tượng và muốn quay lại Hahndoft lần nữa là cách họ quản lý cảnh quan công cộng, bảo tồn, trưng bày di sản và làm du lịch trong cộng đồng dân cư. Trở về từ Hahndoft, mình cứ muốn ngồi lại, viết 1 cái gì đó, thứ mình đang nghĩ trong đầu và gửi cho A Đ - kẻ duy nhất mà mình biết cũng có thể crazy như mình trong những ý tưởng. Rồi mình lại thôi, sợ nó bảo mình: Mày đừng vẽ việc cho tao làm :) nhưng mình cứ nung nấu mãi ý tưởng làm một cái botanic garden nhỏ dưới chân núi Cô Tiên, lấy cái tên là The Fairy Garden, nơi ở cổng vào treo cái chuông nhỏ cho du khách rung chuông, mỗi khi họ đến (như 1 cách thông báo cho các cô tiên rằng tôi đã đến đây). Trong vườn, những giống cây, hoa cỏ của công viên sẽ được trồng và người dân địa phương có thể bán các sản phẩm handicraft dọc theo các lối mòn trong the garden... Mình nhớ đến nguồn fund của Saigon tourist và lại nhớ đến YY... Hic, mình nghĩ, biết đâu YY sẽ điên rồ giống mình hoặc sẽ tiếp tay cho những ý tưởng điên rồ của mình. Đọc đến đây, không biết A Đ có tiếp tục lầm bầm chửi bới mình trong bụng không, nhưng mình cuối cùng đã nói được điều đó với nó, thông qua cái note này :).
Mình đã mua ở Hahndoft cái áo choàng $69 như một sự thôi miên - sự thôi miên của việc để lại 1 dấu vết trong ký ức của mình về Hahndoft - như cách mà các du khách tìm mua 1 thứ gì đó đặc biệt của Đồng Văn trước khi họ rời nơi đó... Lại ước, bao giờ người dân Đồng Văn có thể bán 1 sản phẩm của họ với giá $...
Amour: Hạnh phúc là gì?
Tôi từng than vãn với sư thầy TV rằng: Con không tìm thấy sự an lạc thực sự. Có quá nhiều thứ phải lo toan, tính toán.
Thầy mỉm cười: Tất cả chúng ta đều là khách trọ. Chúng ta gặp nhau đấy, hội ngộ đấy, 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa, tất cả cũng chỉ là trong 1 sát na thôi. Trong một sát na quá ngắn ngủi, không cái gì tồn tại vĩnh hằng, kể cả sự an lạc.
- Vậy nghĩa là không có sự an lạc thực sao, thưa thầy.
- Có. Yêu thương đi, con sẽ an lạc trong từng sát na ngắn ngủi.
- Con đã yêu thương, nhưng con chỉ thấy đau.
- Này con, tình yêu mà tuổi trẻ các con đang theo đuổi là sự sở hữu. Ham muốn sở hữu và khao khát tự do là thứ luôn gây nên sự đau khổ trong chúng ta. Cái ta đang nói tới là thứ yêu thương đúng cách. Bảo tuổi trẻ yêu mà không sở hữu thì rất khó. Thế nên, con thấy không? Các vãi chỉ chăm lên chùa khi đã toan về già, haha.
...
Ở tuổi 25, và thậm chí đến bây giờ tôi vẫn chưa bao giờ hiểu thấu đáo những lời người muốn nói với tôi. Tôi thực sự không biết thế nào để yêu thương đúng cách, cũng không biết phải sống thế nào để có được sự an lạc (hạnh phúc). Tôi chỉ biết rằng cuộc sống của một con người bình thường, ngoài những năm tháng ngắn ngủi được ấp ủ nguyên vẹn dưới cánh của cha mẹ, người ta phải lớn lên, va đập và vỡ vụn dưới nhiều tác động của cuộc sống xung quanh. Tôi hay bị ám ảnh đến mệt nhoài với việc thực hiện một lô một lốc các trách nhiệm và quyền của người trưởng thành. Bởi vậy, đôi khi tôi hay đùa với bạn bè thân thiết của mình rằng, tôi đếm từng ngày đến lúc được nghỉ hưu, ngày mà mình được già đi, và rồi sẽ được vĩnh hằng. Ngày mà những đứa trẻ của tôi đã khôn lớn, bố mẹ đã rời xa, và xã hội đã từ chối. Tôi luôn tưởng tượng về những ngày tháng đó, rằng mình sẽ già ra sao, sẽ làm gì, và sống thế nào? Tôi thường mơ về một ngôi nhà nhỏ (nhỏ để dễ quét dọn và sắp xếp), có khoảnh vườn trước nhà, mùa đông tôi gieo rau cải để ăn lá và đợi đến khi chúng nở hoa vàng rực cả ngôi nhà gỗ của tôi; mùa hè tôi sẽ gieo rau mồng tơi và trồng thiên lý cạnh những hàng rào màu trắng quanh nhà để lấy rau và hoa. Ở đó, mỗi sáng tỉnh dậy, tôi sẽ cùng với người bạn đời của mình chuẩn bị bữa sáng rồi làm vườn, rồi viết lách hay làm bất cứ thứ gì tôi thích mà không cần quan tâm chúng có sinh ra tiền hay không. (Mỗi bữa ăn lưng bát cơm, vài miếng thịt, còn rau thì nhà trồng được - như tôi thì chắc lương hưu sẽ đủ). Ở đó, buổi tối chúng tôi sẽ ngồi tán chuyện và nói về bất cứ thứ gì đang diễn ra xung quanh theo cách chúng tôi nghĩ, chúng tôi muốn nói... và ở đó sẽ không có không gian cho các bạn trẻ - những đứa con và đứa cháu của tôi sẽ phải sống riêng, tất nhiên rồi. Và chúng tôi sẽ cùng nhau thanh thản đón chờ giây phút của bệnh - lão, không làm phiền con cháu... Bạn tôi bảo: Th sẽ thực hiện được ước mơ đó khi phúc lợi xã hội ở Vn đuổi kịp các nước Phương Tây. Nhưng tôi không hoàn toàn nghĩ thế. Nếu như bạn nói, hẳn Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã chẳng thể xây dựng và phát triển được Làng Mai lớn mạnh ở các nước phát triển như bây giờ.
Cách đây hai tuần, tôi ngồi xem Amour theo lời giới thiệu của 1 chị bạn. Và tôi đã hiểu vì sao nó được trao giải Phim nước ngoài hay nhất tại Liên hoan phim Quốc tế Oscar 2013.
Amour - Tình yêu (được dịch ra tên tiếng Việt là "Đơn giản là tình yêu") , là một câu chuyện tình yêu không dành cho giới trẻ, không có những nhịp đập rộn ràng của hai con tim khao khát yêu, không có bất cứ thứ gì khiến cho người ta nghĩ đến Tình yêu - thậm chí dù chỉ là 1 nụ hôn. Nó là bản tình ca của những người già, do đó - theo đạo diễn - chính là cách mà họ yêu nhau. Nhưng tôi vẫn nghĩ, đó là một bộ phim về hạnh phúc, về sự an lạc thì đúng hơn. Xuyên suốt bộ phim, nhìn cách ông già George chăm bà vợ già Anne bị tai biến, tôi cứ miên man nghĩ về ông bà nội Tý tồ, cách bà cho ông đi vệ sinh tại giường, tắm cho ông, lấy thuốc cho ông uống và trò chuyện với ông. Tôi cứ tự hỏi, liệu trong cuộc đời mình, nếu có thể thọ đến giới hạn như họ, liệu có người đàn ông nào sẽ bế tôi đứng dậy khỏi bồn xí, lau rửa và thay quần áo cho như cách mà ông George hay bà nội Tý tồ đã làm với người bạn đời của mình hay không?.
Có thể đã đi qua những đắm say và đổ vỡ của tuổi trẻ, người ta biết cách thể hiện tình yêu một cách đơn giản hơn - có thể là cách yêu thương mà sư thầy đã nói với tôi - "yêu thương đúng cách" chăng?
Những cảnh quay của bộ phim cứ đều đều, chậm chạp theo từng bước chân của người đàn ông già chăm sóc vợ. Một vài cảnh tôi cho là khá đắt khi được đặt để tạo sự tương phản giữa hai cuộc sống, một của người lớn - người trẻ và một của người lớn - người già như thế. Ví như cảnh cô con gái ở xa thi thoảng đến thăm bố mẹ, kể lể về những lo toan cuộc sống hàng ngày, chuyện người chồng "ăn vụng" với đồng nghiệp, chuyện bọn trẻ đi học đi làm và phải lo cho chúng ra sao, giá cả sinh hoạt đang leo thang thế nào... Những nỗi lo, trách nhiệm của người lớn - người trẻ. Hay cách ông sẵn sàng trả tiền một cách phi lý cho cô y tá hỗn hào mà ông thuê chăm bà, chỉ để tống cổ cô ra khỏi cửa với câu nói "Từ tận đáy lòng, tôi hy vọng, một ngày nào đó sẽ có người đối xử với cô như cái cách mà cô đã đối xử với bệnh nhân".
Tuy nhiên, thành công nhất có lẽ là những cảnh cuối cùng của phim, khi bà đã mất hoàn toàn ký ức và khả năng ngôn ngữ, chỉ nằm trên giường rên rỉ và thở; khi ông kể cho bà nghe câu chuyện thời niên thiếu của ông về lá thư gửi cho mẹ ông từ trại hè với những ký hiệu hoa thay cho niềm vui và ngôi sao thay cho nỗi buồn; và khi ông quyết định lấy gối chặn đứt hơi thở của bà. Họ đã sống đủ cho cả những giây phút ngập đầy hoa và sao trời, giờ là lúc họ có quyền được chết. Và lại một lần nữa tôi nhớ đến sư thầy "cái chết là tất yếu, nhưng con người chúng ta luôn lo sợ nó. Bởi vậy mà ta không thể sống an lạc. Chỉ khi sống yêu thương với hiện tại và nghĩ đến cái chết trong tương lai như một sự giải thoát, chúng ta mới có thể an lạc." Khi nghĩ về câu nói cuối cùng ông nói với bà "và bà biết không, tôi đã gửi về cho mẹ tôi 1 lá thư chỉ toàn những ngôi sao", và nghĩ về cảnh ông trải hoa xung quanh giường bà, chuẩn bị tất cả những thứ cần thiết cho một chuyến đi xa của cả 2, tôi tin rằng họ thực sự thấy đã sống đủ và cần được giải thoát.
Nếu ai đó trông chờ một bộ phim với nhiều tình tiết và sôi động theo cách hiểu thông thường về tình yêu như đúng cái tên của phim, hẳn họ sẽ thất vọng nhiều khi xem. Nhưng để chuẩn bị cho tuổi già đang đến, tôi khuyên các bạn trẻ hãy xem nó :). Có thể, có thể thôi nhé, xem xong sẽ thấy yêu chồng (vợ) của mình hơn, trân trọng hơn những giờ phút đã sống bên nhau hơn, và biết mình phải làm gì để đối diện với thực tại, để tiếp tục yêu và sống an lạc.
(Do đó mà tôi quyết đựng dừng lại ở tập 25/51 của bộ phim truyền hình Hàn Quốc: Hoàng Hậu Ki sau 4 ngày chiến đấu miệt mài với nó, dù đã từng một thời mê mẩn phim cổ trang). Hehe, dạo này thay đổi khẩu vị rất nhiều với phim ảnh, sách vở. Chốt lại là một số thứ rất ham hố ngày trước giờ thấy nó nhạt. Cười buồn.
Đồng Văn: Miền ký ức.
Có lẽ nếu để đánh dấu chuyến đi Đồng Văn vừa rồi của mình vào timeline cuộc đời, hẳn mình sẽ phải tô đậm ngày tháng ấy, những con người ấy, những hình ảnh ấy rồi đưa tất cả chúng vào một album lấy tên “Milestones”. Bởi vì, chuyến đi đó thực sự đã kéo mình trở lại với thực tại cuộc sống, với những điều đã từng nuôi “lửa” trong mình. Và mình đã gần như tìm lại được “con người mình” sau 4 năm thất lạc, tìm lại được thứ mình thực sự muốn, nơi mình thực sự thuộc về và thanh lọc cả những suy tư còn nhiều lập lờ toan tính. Cao nguyên đá Đồng Văn – dường như ngoài Mường Chang của mẹ ra, chẳng có một nơi nào cho mình nhiều thứ cảm xúc hỗn độn như nơi đó.
Đó là sự thanh thản tới kỳ diệu khi xe bắt đầu chớm tới làng rau Quyết Tiến. Chỉ cần dừng xe ở trung tâm xã, đi bộ qua một đồng lúa xanh, mình đã ngồi trong gian nhà gỗ nhỏ của bác Phượng, khều lủa trong gian bếp lụp xụm và nghe ông già khoe về những bài dân ca Bố Y mới sưu tầm lại được. Không tài nào giải thích được cảm giác bình yên tới lạ khi ngồi ngắm ông ngồi bên bếp lửa, xung quanh là tiếng trẻ ê a tập nói lại một thứ ngôn ngữ của chính dân tộc mình.
Đó là cảm giác hoang hoải nao nao khi đứng trên đỉnh đèo Pắc Sum; nhìn về thung lũng Tam sơn, nắng đang chạy lướt trên những đỉnh núi, qua cổng trời Cán Tỉ xưa cũ; nhớ lại nụ cười của N.Thanh năm nao, khi hai đứa leo núi vào 1 bản người Mông, dọc đường gặp 1 anh đưa vợ đi chợ, một bên ghi đông xe treo 1 giò lan rừng tím lịm.
Đó là cảm giác ấm áp, ngồi ở chợ Mèo Vạc một sáng mù đặc sương muối. TH đưa chìa khóa xe máy của bạn cho mình và bảo ‘đi đường núi thì nhớ đi chậm và còi thật nhiều nhé”, xong nhét vào túi mình mấy hộp sữa và bánh mỳ “Đừng uống nhiều, nếu không ăn được mẻn mén thì ăn tạm cái này, tối về mình đưa đi ăn”. Mình nhìn bạn ấy rồi tự hỏi: tại sao mình lại bỏ qua bạn ấy suốt thời sinh viên nhỉ :).
Đó là nỗi nhớ nôn nao mùi cà phê Mã Lủng do người đàn ông già chuyên chăn ngựa cho vua mèo Vương Chí Sình pha chế. Thứ cà phê đặc sánh như nước cốt bồ hóng, đựng trong cái chén nhỏ mà chỉ cần nhâm nhi một miếng nhỏ cũng đủ thơm miệng suốt buổi sáng. Thứ cà phê chỉ được trồng vài cây trong vườn nhà, thu hái trong những cái rổ nhỏ, phơi hong trên gác bếp, lót dưới lót trên bởi những lớp mỡ gà thơm ngầy ngậy…
Cảm giác rưng rưng bi tráng pha lẫn yếu hèn, nhỏ bé trỗi dậy trong mình, khi đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng cao hun hút, nhìn dòng Nho Quế bé như sợi chỉ dưới chân, nghĩ về những dòng nhật ký của người cựu Thanh niên xung phong đi mở đường năm nào. “Hôm nay, lại thêm 5 người nữa ra đi. Con đường này rồi sẽ mang lại một cuộc đời mới ấm no, hạnh phúc cho những đồng bào tôi bên kia núi. Nhưng đồng đội tôi thì không thể trở về… Hy sinh này liệu đời sau có nhớ?”. Hồ sơ nhân chứng lịch sử về bác giờ vẫn nằm im trong kho tư liệu của Bảo tàng. Mong muốn được đứng ra tổ chức một buổi gặp mặt các cựu Thanh niên xung phong đi mở đường Hanh phúc năm nào của mình cũng đã được các đồng nghiệp cũ toàn thành. Những lời bác nói với mình năm nào dường như vẫn còn rất mới: “Những năm tháng tuổi trẻ ấy, lý tưởng là thứ duy nhất khiến con người ta thấy mình sống có ý nghĩa, cháu gái ạ”…
… Lý tưởng? Nó dường như không còn là một khái niệm trừu tượng học thuật nữa khi mình đứng trước anh Hội, anh Quản, trước chị Chở, em Lan – những người chẳng cần biết ngoài kia còn một thế giới mạng, nơi người ta đâm chém nhau nằng bàn phím, chửi rủa bất cứ thứ gì người ta không ưa, phỉ nhổ vào tất cả mọi thứ người ta thấy; nơi mà người ta chỉ tìm thấy những điều tồi tệ xấu xa nhất. Thậm chí kể cả những cái đẹp cũng trở nên đáng nghi ngờ khi bị rơi vào thế giới ấy. Trong cái thế giới quẩn quanh ấy, cũng như thế giới học thuật – sách vở, người ta quên mất mình thực sự là ai và mình có thể làm được gì thực tế cho cuộc đời; người ta tưởng mình là anh hùng, là người tạo ra sự thay đổi cho xã hội mà đâu biết mình đang góp phần vào công cuộc đập nát những thứ tốt đẹp còn lại của xã hội này, phá vỡ những nỗ lực của người khác và đạp đổ niềm tin vào một tương lai cuộc sống của những người trẻ … Rõ ràng là các anh chị ấy chưa bao giờ nói với mình về lý tưởng, nhưng những thứ họ đang làm khiến mình tin rằng nó thực sự thúc đẩy xã hội phát triển.
… Đêm nay, một mảnh trăng đã đuổi theo xe mình trên đường trở về thị xã – giống như cảnh tượng của một đêm 1/9 năm nào. Cũng vầng trăng đó đã đuổi theo 4 cô gái trẻ bọn mình trên từng khúc cua của đồi thông Yên Minh. Mình đèo N.Hà sau lưng mà nghe tiếng bạn thì thầm: “Th kìa, trăng sáng quá. Liệu sáng mai mình có kịp chào cờ đón mặt trời ở Lũng Cú với các đồng chí bộ đội Biên phòng không?”. Mình ngước nhìn trăng, rồi bảo bạn “Trăng sáng thế này mình cứ đi thôi. Đừng lo Hà ạ”… Và đột nhiên, nghĩ tới khoảnh khắc đó, mình nhớ C, người bạn thân lâu năm, một chiến sĩ biên phòng trẻ tuổi đã dẫn mình tới từng cột mốc, nhà dân. Nghe nói trong mấy năm mình đi học, C đã chuyển về Săm Pun làm Đồn Trưởng Đồn Biên phòng – một trong những đồn xa xôi, khó khăn nhất của tỉnh. Nghĩ tới những người như C vẫn đang ngày đêm cần mẫn từng ngày bám dân bám đất ở những nơi như thế, bất giác muốn gọi một cuộc điện thoại để nói với bạn ấy rằng: mình yêu quý bạn ấy biết bao :D.
Đi hay ở - đó là điều mình từng tâm sự với chị khi mới về. Chúng mình chỉ nói về khía cạnh gia đình, không về bất cứ điều gì khác. Chị không khuyên gì mình, chỉ nói rằng thực sự phục những người ở lại và làm được những điều mà nhiều người khác (thậm chí là chị) chắc cũng không làm nổi. Và dẫu không nói ra với chị, mình biết mình đã thèm trốn chạy. Nhưng trốn chạy – dù ở bất cứ khía cạnh nào đều không phải là giải pháp. Than phiền, chửi bới lại càng không thể khiến mọi thứ tốt hơn.
Giống như lời chèo kéo của bé bỏng “Mẹ ở nhà với con thôi. Mẹ đừng đi nữa”. Đồng Văn không nói với mình điều đó, nhưng mình đã muốn trở về - như tự thâm tâm muốn, từ rất lâu rồi. Chỉ là phải sau chuyến đi này, sau cuộc nói chuyện với Ericka về những suy nghĩ rất giống nhau của bọn mình, mình mới tin rằng mình thực sự thuộc về Hà Giang.
Ericka bảo mình, đại ý rằng: as long as you want to do, you can do it. Chỉ vậy thôi. Và mình tin có nhiều người giống mình.
Triệu Lam Châu: Một tâm hồn Tày trong thi ca Việt.
(Tản linh tinh trong một buổi chiều xám xịt, bầu trời Sydney nặng trĩu một bọng mây và mưa. Nhớ nhà, mệt lòng, chẳng biết làm gì cho đến ngày 13/1. Chỉ muốn ngủ vùi cho quên tất cả. Cuộc sống chẳng bao giờ cho mình lựa chọn! Định viết 1 note về 1 bộ phim chỉ toàn người bị rối loạn tâm thần nhưng nghe xong bài hát "Hà Nội ngày trở về" với bản phổ nhạc của một nhà thơ mình rất thích: Triệu Lam Châu, thế là viết cái note này).
"Nằm xuống sàn ôm lấy em đi
Cán bộ ơi, đừng sợ
Cứ đóng giả ta làm chồng vợ
Bọn giặc càn đến trước ngõ rồi
Anh nghẹn ngào không nói được nửa lời
Ôm nàng trong vòng tay bổi hổi
Cô gái Bana mười tám tuổi
Chiều rằm trăng mới nhủ trên non
Anh thoát trận giặc càn
Đã đi khắp trời Nam bể Bắc
Trái tim luôn thầm nhắc
Một nét ngời trăng sáng trên non".
Lần đầu tiên mình biết đến Triệu Lam Châu là năm học lớp 12, theo mẹ về Hà Nội và gặp các bác các chú trong Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam. Nghe mọi người nói về ông, mình bắt đầu tìm đọc. Bài thơ trên là tác phẩm đầu tiên mình đọc và rồi cứ thế nhớ mãi tới mức ám ảnh đến giờ những cấu trúc câu, cách chọn từ nhả nhãn tự rất chân thành mộc mạc. Sau này đọc nhiều thơ ông viết, sách ông dịch (ông dịch sách truyện từ tiếng Nga sang tiếng Việt rất hay), mình hay tự hỏi: Điều gì kiến tạo nên một Triệu Lam Châu tài hoa như thế? Nếu ông mãi chỉ là một chàng trai Tày Cao Bằng, chẳng đi Nga để học Mỏ địa chất, chẳng trở về để tham gia sáng tác văn học các Dân tộc thiểu số, chẳng làm thơ, viết nhạc, thì sẽ có ai thay ông đưa tinh thần Tày, tư duy Tày, trí tuệ Tày, và cả nguồn văn nghệ dân gian Tày hội nhập một cách xuất sắc như thế?
"Mé bước lên nhà sàn
"Nhà bác có trái hồng chín mẩy
Như mặt trời trên rẫy
Xin nhượng lại cho tôi được chăng?"
Chàng trai đứng thập thò bên sân
Vờ chuyện trò cùng đàn em nhỏ
Nhưng tai cứ vểnh lên chừng nín thở
Nghe mé hỏi trên nhà.
Giờ đây nàng công tác nơi xa
Có biết chiều nay anh đến
Ngồi bên gốc hồng hổn hển
Mùa thu đầy vòm xanh.
"vâng, nhà có trái hồng đậu trên cành
Chưa có ai xin hái
Nay bác để ý tới
Tôi hân hạnh lắm thay"
Bất giác chàng trai mở miệng cười thầm
Đàn em thơ ngơ ngác
Chúng làm sao hiểu được
Tấm lòng anh đang bay trên mây.
Mặt trời thu chín mọng trong lành
Chiều hôm sâu vời vợi
"Đêm nay mình lại ngồi viết thư cho em"
Trái hồng chín lặng trong tán lá."
Khi nói về văn thơ các dân tộc thiểu số, nhiều người hay lập luận rằng, nền văn học các dân tộc thiểu số bây giờ chỉ là một nền văn học vay mượn khi mà hầu như tất cả các tác phẩm đều được viết bằng tiếng Việt. Rất hiếm một nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số nào viết bằng chữ viết riêng (trừ Inrasara - người Chăm, Hùng Đình Quý - người Mông và vài người khác nữa). Nhưng sự thực là không phải dân tộc nào cũng có chữ viết, hoặc bảo tồn được chữ viết của mình đến thế kỷ này. Điều đó không có nghĩa là nguồn văn nghệ dân gian của họ vay mượn và nghèo nàn. Mình thì coi việc sử dụng tiếng Việt để chép lại Văn nghệ của các dân tộc thiểu số là điều dễ hiểu và nên chấp nhận. Nó cũng giống như việc sử dụng tiếng Anh, hay tiếng Pháp để viết văn của người Việt, để quảng bá và hội nhập văn hóa Việt ra ngoài thế giới. Có lẽ cũng suy nghĩ như vậy chăng nên Triệu Lam Châu làm thơ viết văn không hề Tày chút nào trong câu chữ nhưng lại vẫn rất Tày trong các tứ thơ.
Nói như vậy không có nghĩa là mình không ủng hộ các sáng tác bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của các tác giả người dân tộc thiểu số. Nếu dân tộc đó có chữ viết thì việc phát triển hệ thống chữ viết thông qua các hoạt động sáng tác bằng ngôn ngữ chữ viết của dân tộc đó là điều cần được khuyến khích. Nhưng bảo tồn văn hóa không phải là câu chuyện của riêng một dân tộc nào cả. Bản thân các di sản, đặc biệt là di sản phi vật thể là sống động và vạn biến. Bảo tồn sống để các giá trị văn hóa được lưu truyền và phát triển trong đời sống xã hội, để các tầng lớp, dân tộc khác nhận ra chúng, coi chúng như những bản sắc để phân biệt các tộc người này với tộc người kia là điều cần hơn cả. Mà để số đông nhận ra và tôn trọng sự khác biệt đó, thì các giá trị đó phải được diễn giải và "khoe" bằng thứ ngôn ngữ phổ thông đại chúng nhất.
Câu chuyện văn nghệ các dân tộc thiểu số ở Việt nam xem chừng như những con sóng lớn ở đáy sông. Dù rất mạnh mẽ nhưng chưa bao giờ vượt lên khỏi bề mặt vốn dĩ phẳng lặng của văn đàn Việt Nam.
Đối với bản phổ nhạc mới "Hà Nội, ngày trở về" của Triệu Lam Châu, mới đầu mình hơi hẫng, vì có thể cái não mình đã mặc định một giai điệu khác, nhưng sau hai câu đầu thì mình nhận ra sự thân quen trong giai điệu. Thứ giai điệu mà chỉ có người miền núi mới nhận ra, đặc biệt là ở câu "Tôi bồi hồi khi chạm bóng thủ đô" và hai câu kết của bài. Đúng là khó chấp nhận được những "làn điệu Tày" đến thế trong những lời ca "Kinh" đến vậy. Chúng rừng núi tới mức "quê mùa" so với bản phổ nhạc cũ sang trọng, điêu luyện và "quý tộc" của Phú Quang. Cũng có thể lỗ tai nhĩ thính của mình dễ chấp nhận hơn bởi mình đã quen với sự giao thoa văn hóa và thấy được sự thân quen trong những điệu ngân mượt mà. Chúng giống như được triết xuất ra từ những đoạn ngân của điệu sli, điệu cọi và những âm hưởng của núi rừng. Khách quan mà nói, mình thấy thích bản phổ nhạc cũ của Phú Quang hơn (Mình hay cố hữu thế đấy). Nhưng rõ ràng là, nnỗi nhớ thủ đô của một người miền núi sẽ không bao giờ giống nỗi nhớ của một người thủ đô. Cách trải lòng, trải nỗi nhớ càng không bao giờ giống. :).
Link bài hát đó đây ạ, mời mọi người cùng nghe: https://www.youtube.com/watch?v=y5UCvOxuRqQ
Totem Sói.
Totem Sói là một bộ phim được dàn dựng dựa trên tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Khương Nhung. Tác phẩm kể về mối quan hệ liên đới mật thiết giữa con người và thiên nhiên trên những thảo nguyên bao la của Nội Mông những năm Cách mạng Văn hóa Trung Quốc. Tất cả những hoạt động sinh sống của con người trên những thảo nguyên này đều nằm trong vòng tròn cộng sinh cây cỏ - muông thú – sói – con người. Triết lý truyền thống bao đời này của Văn hóa Trung Hoa coi con người là trung tâm của vũ trụ (Anthropocentrism) lần đầu tiên bị “xét lại” dưới góc nhìn của triết lý ecocentrism – coi tự nhiên là trung tâm của vũ trụ nơi mà vạn vật đều bình đẳng và mỗi loài đều có vai trò nhất định tới sự tồn vong của các loài khác.
Không thể phủ nhận rằng, nội dung và tinh thần của tiểu thuyết Khương Nhung hầu như được giữ nguyên bản trong bộ phim này, nhưng tôi không khỏi tự hỏi: nếu đạo diễn của Totem Sói không phải là một tên tuổi lớn trong làng điện ảnh thế giới Jean – Jacques Annaud (Đạo diễn của bộ phim Người Tình) thì bộ phim Totem Sói có thể truyển tải được một góc nhìn mới mẻ và nhân văn và “phương Tây” như vậy không?
Thông qua mô tả của chàng thanh niên trẻ Trần Trận – người vừa rời khỏi giảng đường đại học, xung phong tới miền đất xa xôi theo phong trào đưa trí thức về nông thôn của Cách mạng Văn hóa Trung Quốc, cuộc sống thực của thảo nguyên Nội Mông dần mở ra cho khán giả. Đó không chỉ là những sườn đồi xanh mướt cỏ non kéo dài tận chân trời, một bầu trời cao xanh trong vắt với những đám mây trắng như bông buổi trưa và mây ngũ sắc buổi chiều, là những trận bão tuyết kinh hoàng, hay là tiếng hát lanh lảnh lạc quan của những cô gái Mông Cổ. Đó còn là cuộc sống tự do, dung hòa thiên nhiên, nơi lòng tham và sự ích kỷ của con người không những phá vỡ sự bình yên của vòng tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái mà còn góp phần gây nên mất mát và tổn thương cho chính mình. Chó sói săn hươu nai bằng cách dồn bầy thú xuống hồ nước đóng băng, dự trữ lương thực cho mùa đông. Con người tham lam tìm cách lấy hết chỗ thức ăn dự trữ của sói, tất yếu sói đói sẽ tìm cách bắt dê ngựa của người. Con người tìm diệt sói bằng cách giết sói non, bắn chết sói trưởng thành, đốt đồng cỏ diệt soi. Sói chết thì các loại động vật ăn cỏ và gặm nhấm sinh sôi, ăn hết cỏ cây và thức ăn của gia súc. Nạn đói sẽ diễn ra khắp thảo nguyên. Con người thảo nguyên, khi sống đã ăn thịt muôn loài, khi chết hiến thân trở lại cho thảo nguyên cho các loài khác ăn thịt để giải thoát trần gian. Những hành động nhân – quả đó không phải ai cũng hiểu.
Nếu tộc trưởng Tất Lợi Cách đại diện cho ý chí và kiến thức bản địa của cộng động dân thảo nguyên – hiểu được quy luật của tự nhiên, thì nhân vật Chủ nhiệm Hợp tác xã đại diện cho một ý thức khác, một đại diện của sự duy ý chí, chủ quan, bằng các quyết định không dựa trên kiến thức thực tiễn bản địa khi đưa ra hàng loạt phong trào phản tự nhiên: giết sói non, di dân định canh định cư ở một khu vực không phù hợp với canh tác nông nghiệp… Quay trở lại câu hỏi ban đầu: nếu đạo diễn của bộ phim không phải là Jean – Jacques Annaud thì sao? Mình đã đọc Totem Sói nguyên gốc của nhà văn Khương Nhung và nhận ra rằng: Có một sự khác biệt quan trọng về mặt tinh thần giữa tác phẩm gốc của Khương Nhung và phim của Jean – Jacques. Nếu Khương Nhung tập trung vào đặc tính tinh thần chiến đấu của Sói, thông qua đó giải thích tại sao Đế chế Nguyên Mông từ một tộc người nhỏ lại có thể đánh Đông Dẹp Tây, uy danh 4 cõi, thì Jean – Jacques lại tập trung vào khía cạnh tri thức bản địa và tính Totem (tính thiêng) của Sói trong đời sống của người Mông Cổ. Nếu nhìn tác phẩm nguyên gốc từ góc nhìn tuyên giáo truyền thống của Trung Quốc, Khương Nhung có vẻ như đang ẩn một tuyên bố ngầm về sự thiện chến và bá quyền của thế lực Thiên định (sói). Còn Jean – Jacques thì đang đề cao một triết lý khác: một triết lý đại đồng và hòa hợp trong đó môi trường sinh thái và tri thức bản địa là nhưng thứ cần được tôn trọng trong quá trình phát triển bền vững. Cá nhân mình có thiện cảm hơn với cái nhìn thứ hai của Jean – Jacques. Có thể, tinh thần của bộ phim sẽ rẽ sang một hướng khác nếu đạo diễn là một người Trung Quốc.
Mình đặc biệt ấn tượng với lối diễn xuất của diễn viên Phùng Triệu Phong, người đóng vai Trần Trận. Chỉ có thể nói hai từ Tuyệt Vời. Mọi cảm xúc của anh đều được lột tả thành công qua ánh mắt: từ ánh mắt tò mò, vui vẻ khi bò dưới tuyết quan sát lũ sói, ánh mắt rạng rỡ hạnh phúc khi cưỡi ngựa chạy trên thảo nguyên, ánh mắt thất thần sợ hãi khi bị bầy sói vây hãm, ánh mắt đau khổ tuyệt vọng trước cái chết của những con sói con, và ánh mắt đỏ ngầu bất lực vì không thể làm gì trước hiện thực.
Lời thoại của phim không có gì đặc sắc. Mình thích những lời thoại dí dỏm kiểu Mỹ: “Nhẽ ra tối qua anh không nên làm thế”, “Nhưng em đã rất vui”, “Hôm qua em đã sai”, “Thế còn hôm kia”, “Hôm kia em cũng sai”, “Thế còn những ngày trước”… “Cả tuần này em đã sai nhiều rồi”. :D Thế nên, những lời thoại nghiêm túc và kịch quá đà luôn khiến mình thấy mệt đầu. Tất nhiên, mỗi dòng phim sẽ có một dạng ngôn ngữ biểu cảm hơn. Nhưng không hiểu sao, về khoản ngôn ngữ biểu đạt, với mình phim Châu Á vẫn chưa chạm ngưỡng sàn.
P/S: Lẩm bẩm linh tinh, review vớ vẩn trước thế cho những bạn chưa xem phim này. Trong list bạn bè facebook của mình có vẻ cũng nhiều người mê phim. Không biết mọi người thường thích xem phim trong tình cảnh thế nào, mình thì thấy không gì thú vị và hạnh phúc bằng việc: ôm cục bông tròn mềm thơm tên là Tý tồ trong lòng, cùng nhau xem phim và cùng nhau ăn sô cô la vào một ngày cuối tuần se lạnh như thế này. :) Các bạn nào chưa có cục bông bé thì ôm cục bông to mà xem nhé. Chúc ngủ ngon cả nhà.
Thầy ơi!
Tôi chưa bao giờ gọi ông là Thầy, dù đã theo ông học nhạc suốt 5 năm. Tôi gọi ông là Ông bởi vì mẹ tôi gọi ông là Chú. Trẻ con – những đứa trẻ sống trong khu tập thể giáo viên của chúng tôi ngày đó cũng đều gọi ông là Ông – Ông Tinh. Ông dạy nhạc cho các lớp sơ cấp Sư phạm 7 + 2 và sau này là 9 + 3, 12 + 2*. Ông là người thầy dạy nhạc đầu tiên và duy nhất của tôi.
Những năm tháng khó khăn ấy, đồng lương giáo viên vốn đã rẻ lại càng rẻ hơn. Có lẽ vì thế mà bố mẹ của tất cả bọn trẻ trong khu tập thể giáo viên, ai ai cũng đều phải có một việc làm thêm để tăng thu nhập và nuôi con. Tuy nhiên, nếu để phân chia theo bậc nghèo thì có lẽ nhà tôi nghèo nhất khu. Bố còn đóng chốt trên biên giới, một mình mẹ nuôi hai chị em, chật vật lắm. Tôi không còn nhớ nổi ký ức đầu tiên về bộ quần áo mới bởi tôi luôn mặc lại đồ thừa từ các anh chị họ. Những chiếc quần xoắn lò xo sau gối, những chiếc áo bạc phếch, nhờ nhờ một thứ màu khó tả. Tôi cũng không nhớ đã đánh nhau bao nhiêu lần với bọn trẻ trong khu tập thể ấy để bảo vệ em trai, bảo vệ cái sự hãnh diện về bố của mình. Chín tuổi, tôi đã cãi nhau với bà bán cá ngoài chợ Xép để thêm bằng được một hoa trên cái cân điêu trá của bà ấy. Mười tuổi, tôi khóa trái em trai trong nhà mỗi khi mẹ chạy chợ xa, rồi ra ngồi giữa nắng đập đá cùng các thợ đá khác để lấy 50 đồng. Mười tuổi, tôi một buổi lên lớp, một buổi theo các cô chú giáo sinh vào rừng Mán lấy củi hoặc đào măng hoặc lấy rau cho lợn và cho thỏ… Do vậy, trong mắt người lớn, tôi là một đứa trẻ đanh đá, ghê gớm, khó ưa. Trong mắt bọn trẻ cùng lứa, tôi là đứa xấu xí, cộc cằn và bẩn thỉu. Tôi cô độc, tôi khó ưa, tôi lì lợm, ngoại trừ trong thế giới của “Đất nước đứng lên”, “Sử thi Homer”, “Đất Vỡ Hoang”, “Jang Kristop”…
Cho đến một buổi chiều, sau giờ lên lớp, ông đột nhiên tới nhà tôi. Ngồi đun nồi cám lợn trong bếp, tôi nghe ông nói với mẹ tôi sau tấp liếp “Từ ngày mai, cháu cho cái Thúy tới nhà chú học nhạc nhé. Chú đang dạy mấy đứa trẻ trong thị trấn”. Mẹ tôi trả lời “Cháu nghĩ là cái Thúy nhà cháu không có năng khiếu âm nhạc đâu chú ạ.” “Cháu đừng nghĩ thế, học không bao giờ là thừa”. “Cháu cảm ơn chú, nhưng cháu lấy gì để trả công chú đây?”. “Vớ vẩn, công xá gì. Cứ học đi”. Xong ông ra bếp bảo tôi “Từ giờ, hôm nào không đi rừng thì qua nhà ông học đàn nhé”. Thế là tôi trở thành học trò của ông giữa 4 đứa học trò nhà giàu khác của thị trấn. Hết buổi học đầu tiên, ông ngồi tỉ mẩn vẽ từng phím nhạc lên một tấm ván mỏng có chiều ngang và chiều dài gần bằng cái bàn oocgan cũ của trường, rồi đưa tôi “Cầm về, tập với cái này cho quen tay và quen vị trí các phím đàn. Ngoài ra, lúc nào con cũng thể qua đây tập với đàn thật”. Với tôi, mọi thứ cứ lướt trôi qua như một giấc mơ – một giấc mơ với những phím đàn nuột nà, ve vuốt, những âm thanh kỳ diệu và dịu dàng. Có những lời ông dạy, tôi cứ nhớ mãi tới tận hôm nay “Đừng dùng sức với các phím đàn như thế. Các ngón tay con thả lỏng ra, cổ tay thả lỏng ra, như thế. Cảm nhận đi! Con đang chơi nhạc, không phải đang chặt củi hay thái rau lợn”. “Đừng nhìn các bạn, hãy nhìn mình.”…
Phải rất nhiều năm sau, mẹ tôi mới kể cho tôi biết rằng, ông đã nhìn thấy tôi chiều chiều vác bỏ củi từ rừng về, đứng núp sau cánh cửa lớp học, nghe một cách say mê các cô chú giáo sinh tập xướng âm và chơi đàn. Đó là lý do ông tìm mẹ tôi và thuyết phục bà cho tôi theo học. Những ngón tay chai sần, đầy sẹo, đen nhẻm than và nhựa chuối của một đứa trẻ xù xì đã chạm dần vào những phím đàn mướt mát và một thế giới dịu dàng như thế.Những năm sau này, mỗi khi ông lên thị xã để tham gia các sự kiện của Hội Cựu Giáo Chức hay Hội VHNT tỉnh, ông thường qua nhà tôi, uống rượu với bố tôi và tự hào “Tôi chỉ có vài nốt nhạc mà ăn mãi cả đời không hết đấy, anh Đ ạ”. Cuối năm vừa rồi, tôi gặp lại ông trong Đại hội Văn học Nghệ tỉnh, ông chống gậy tới vỗ vai tôi “Về rồi sao? Về là tốt rồi con ạ. Chẳng đâu bằng quê hương”. Rồi hỏi “Mày còn biết chơi đàn nữa không”. “Con quên thật rồi ông ạ. Nhưng âm nhạc thì vẫn đang ở đây”, tôi vừa cười đùa vừa đập đập tay lên lồng ngực trái của mình. Ông cười hào sảng “Đó là lý do ông dạy nhạc cho mày”. Nhiều năm đã trôi qua, tôi không còn chơi đàn nữa. Thậm chí, lần gần đây nhất ở Adelaide, khi chạm tay vào những phím đàn oocgan của anh Dũng mua cho Nghé, hai bàn tay tôi bỗng dưng mướt mồ hôi và run rẩy. Và tới khi mẹ Nghé bảo “bác Thúy sau này dạy Nghé chơi đàn nhé”, tôi chợt nhận ra ngón tay tôi đã ngọng ngịu tới mức nào với các phím nhạc. Tôi chẳng còn nhớ bất cứ bản nhạc nào để bắt đầu điều khiển các ngón tay.
Tôi không có năng khiếu để trở thành một thầy dạy nhạc như ông, cũng không thể theo đuổi con đường âm nhạc đúng như mẹ tôi đã nhận xét. Tôi chưa bao giờ có một cây đàn của riêng mình như đã từng ao ước suốt tuổi thơ, dù bây giờ việc mua một cây đàn không còn là thứ xa xỉ với tôi nữa. Nhưng tôi đã được nhiều hơn thứ tôi mơ ước. Chẳng ai ngày ấy có thể cho một đứa trẻ như tôi nhiều như ông: một thế giới của Bach, Beethoven, của đồ mi la son, của sang ù xê phàn xê lưu**, của những thứ xa xỉ vượt ngoài tầm tưởng tượng của chúng tôi ngày đó. Hơn tất cả, ông đã trao cho tôi một phương thuốc mang tên ÂM NHẠC – thứ mà cùng với VĂN HỌC, tôi đã dùng để vượt qua sự cô đơn và cái nghèo một cách đầy tự trọng. Để rồi, trên những bước đường tôi đi, tôi luôn tìm thấy cho mình những góc thiện, góc đẹp của cuộc sống, và biết rằng: cô đơn và nỗi buồn không phải lúc nào cũng xấu xí; để rồi luôn thấy yêu cuộc sống và trân trọng mọi trải nghiệm, mọi con người tôi gặp; để hiểu đúng hơn các giá trị thực của cuộc đời, tự tin hơn trước xã hội.
“Tuổi thơ như chiếc gối êm, êm cho tuổi già úp mặt”***. Tuổi thơ của tôi đã trở nên êm mượt hơn nhờ có ông. Chiều nay, xa quá! Ông đã về một cõi khác. Muộn qúa! Tôi chẳng kịp tới tiễn đưa ông. Tôi muốn dùng những dòng này như những nén hương tiễn vọng ông, của riêng tôi, và có thể là của cả một số bạn của tôi đã từng được theo học ông. Thầy ơi, an nhiên về miền cực lạc nhé. Con cảm ơn thầy nhiều lắm…
* 7+2: học hết lớp 7 và học thêm 2 năm nghề giáo; 9+3: học hết lớp 9 và học thêm 3 năm nghề giáo; 12+2: học hết lớp 12 và học thêm 2 năm nghề giáo.
** Một số ký âm trong âm nhạc cổ truyền của Việt Nam
*** Câu hát trong bài hát “Mẹ Tôi” của NS. Trần Tiến.
Ông Nội và Cội nguồn.
Hôm nay là ngày thứ 4, kể từ ngày ông nội rời bỏ chúng tôi, sau gần chục năm chống chọi với căn bệnh ung thư vòm họng. Ông đi một mình trong đêm, không cho ai biết, sau khi uống xong hớp nước cuối cùng từ tay người vợ trẻ - lặng lẽ, cô đơn, tự trọng và thẳng hàng như một đường kẻ, như chính cuộc đời ông. Tôi không biết khóc ông, người trong làng bảo thế. Phong tục của người Tày làng tôi quy định, khi khóc tang thì phải kể về người chết và những kỉ niệm của mình với người đã chết. Tôi chỉ ngồi im lặng và lau nước mắt, trong khi những người khác xung quanh đang cất tiếc khóc hời. Thoáng chốc, tôi chợt so sánh những bài khóc đó với những bài khóc được thuê bằng đôi chục nghìn trong nhiều đám tang người Kinh. Hơn cả những bài điếu văn hoa lá, cuộc đời của ông tôi dần hiện lên chân thực, sinh động và đầy màu sắc từ những bài khóc như thế. Và quan trọng hơn, ở tuổi 36, sau nhiều đổ vỡ và tự tìm kiếm mình, tôi nhận ra mình thuộc về nơi đâu.
Trong tiếng khóc của bà trẻ - em gái út của ông nội, tôi như nhìn thấy lại chàng thanh niên 17 tuổi năm nào, với ý chí kiên định, vượt qua lí lịch của gia đình có người cha làm giúp việc cho Quan Tỉnh trưởng người Pháp, đã đăng ký ghi danh đi bộ đội. Tôi cũng nhìn thấy người đàn ông cương nghị đó, trở về từ chiến trường với những di chứng thân thể, từ chối vào Hợp tác xã và trở thành người duy nhất của cả Mường Chang, cô đơn và kiên định trên con đường tự lao động nuôi sống gia đình và vợ con. Ông đã chăm chỉ hơn tất cả và chứng minh cho cơ chế hợp tác xã ngày đó thấy sự đúng đắn của ông bằng một ngôi nhà ngôi nhà sàn 7 gian gỗ lim to đẹp nhất mường; những vườn cam vàng ruộm trĩu trịt gánh gồng, tấp nập thương lái; những ao sâu; những đàn gà béo múp chật chuồng, ngủ gật trên những cành cam rồi chết vì tắc mỡ trong ruột; những đàn trâu bò thả trên núi béo căng cả năm; một nhà kho lúc nào cũng đầy ắp thóc ngô; và những chuyến buôn trâu xuyên mường xuyên bản.
Trong tiếng khóc của bà Liệng - chúng tôi gọi vợ hai của ông như thế, tôi đã thấy một người đàn ông tình nghĩa mấy chục năm bôn ba khắp nơi chạy chữa bệnh tật cho người vợ tào khang của mình, nhưng cũng rất “đàn ông” khi thẳng thắn yêu cầu vợ và con cái cho mình được lấy một người phụ nữ khác về cùng ông bầu bạn. (Khi bà tôi đau ốm nhiều năm, không thể làm được chức năng của một người vợ, chăm sóc con cái và quán xuyến gia đình). Người đàn ông đó quân tử tới độ không chỉ cho người đàn bà đi bên mình một danh phận, mà còn chăm lo cho cả những người thân và gia đình của bà. Người đàn ông đó, cho tới tận phút cuối cùng luôn thẳng thẳn và chân thành, dù lối sống thành thực đó khiến ông phải chịu nhiều búa rìu điều tiếng. Dù lựa chọn một mối quan hệ bí mật như cách của nhiều người đàn ông trẻ bây giờ có thể cho ông sự bình yên và dễ chịu hơn.
Trong tiếng khóc của mẹ tôi, một cuốn phim khác dần hiện lên quen thuộc như câu chuyện mẹ thường kể cả trăm lần mỗi khi nói về ông. Tôi nhìn thấy một đứa bé đỏ hỏn vừa chào đời, được ông đón tay và đặt tên là Thuý - một cái tên không Tày chút nào - theo lời nhiều người bạn của tôi bình luận. Ông bảo Thuý trong Hán Việt vừa là nước, vừa là màu xanh. Ông muốn cháu gái mệnh Thuỷ sẽ mềm mại và mạnh mẽ như nước, xanh trong và tĩnh lặng như nước. Ông hãnh diện về đứa cháu gái đầu tiên giữa một bầy con trai, cháu trai lộc ngộc. Ở một cảnh khác, tôi lại thấy một căn nhà sàn sáng rực như một ngôi sao giữa thung lũng. Trên căn nhà đó, những cái đèn Măng Sông đốt bằng dầu hoả được bật tàn canh tới sáng để đứa bé sợ bóng tôi thôi không khóc mỗi đêm. Ngày đó, với người miền núi, dầu hoả và muối quý hơn cả bạc trắng. Phân đoạn cuối cùng trong hành trình lời hát của mẹ, tôi thấy một người đàn ông già, đạp chiếc xe đạp (mà cả xã chỉ có một mình ông có) địu đứa bé trên vai, đạp xe từ Mường Chang về thị xã. Ngày mai, mẹ con nó hết kỳ nghỉ đẻ, nó theo mẹ lên trường để dạy học...
Trong tiếng của lòng mình, tôi tìm câu trả lời cho câu hỏi của bản thân: Mình là ai? Là đứa bé được sinh ra với định mệnh như là một phần của Mường Chang, với dòng máu 100% Tày chảy trong người; hay là một thiếu phụ 36 tuổi, đi hết gần 1/2 quãng đời, đắm mình trong những miền văn hoá khác, vẫn luôn không biết rõ cái Identity của mình là gì? Đôi khi, cảm giác của một hybrid khiến cho người thiếu phụ thấy mình ngơ ngác với những giá trị Tày xung quanh, nhưng lại không thể hoàn toàn thoải mái với những giá trị phổ thông thuần Việt, và lại càng trở nên lóng ngóng trước những giá trị hiện đại Phương Tây. Giữa những câu chuyện của những người xung quanh khóc ông nội, tôi dường như hiểu ra rằng: nguồn cội của tôi là nguồn cội của những Hybrids - những đứa con lai giá trị. Chúng tôi đã được lai kể từ khi cụ nội tôi - một thanh niên Tày của đất Mường Chang cổ, không hiểu bằng cách nào đã có thể thông thạo cả chữ Hán Việt và tiếng Pháp, như thế nào đã trở thành một viên chức của chính quyền lúc đó và đón nhận con nuôi người Kinh; chúng tôi đã được lai kể từ khi ông nội tôi - một người đàn ông Tày đã vượt qua những ranh giới vô hình của văn hoá và định kiến, vượt qua Mường Chang, vượt qua Hợp tác xã, vượt qua tư duy nông nghiệp, vượt cả tư duy đơn thuần của những người đàn ông để sống trọn vẹn với bản năng của con người, một cách tử tế nhất.
Tối hôm qua là buổi tối cuối cùng chúng tôi chào từ biệt ông với nghi lễ dâng những cành hoa giấy, bánh trái và rượu tự làm. Chúng tôi không còn kể lể, than khóc. Chúng tôi đội lên đầu những mảnh vải lụa tơ tằm thô, vàng ruộm màu kén tằm, xếp hàng nối đuôi nhau đi ba vòng quanh ông tôi, thủ thỉ dặn dò từ biệt ông. Hoa giấy xếp đầy 7 gian nhà sàn. Này là hoa của họ Mế (bao gồm các gia đình thông gia), kia là hoa của họ Pò (bao gồm các gia đình anh em bên dòng họ của ông), đây là hoa Nhàng (hoa của các cô con gái), nữa kia là hoa Nhả Nhàng (hoa của các cháu gái, em gái)... Ông chúng tôi ngập trong hoa. Văn khấn tiếng Tày trộn lẫn với âm thanh rì rầm khấn vái tiếng Việt. Rể Kinh, dâu Tày ngồi bên nhau, nước mắt cùng tràn mi cúi lạy. Tôi như nhìn thấy ông tôi mỉm cười hài lòng - nụ cười của ngày nhận được tin đứa cháu gái của ông nhận được học bổng đi du học, như nụ cười đón tay đứa chắt nội đầu tiên...
Tôi đã ngủ một giấc trọn vẹn, không mộng mị sau khi đưa ông về nhà mới, giấc ngủ sâu đầu tiên kể từ 6 tháng nay: thanh thản và hài lòng trọn vẹn với gia đình. Tôi đã ăn một bữa trưa đầm ầm với các anh chị em họ mà đã 6, 7 năm rồi, chúng tôi mới có dịp ngồi với nhau. Có người giọng nói đã mang âm điệu vùng Thanh Nghệ, hoặc mang âm điệu miền Nam. Chị họ tôi giọng lảnh lót “mịe mịe” vẫn biết cách vấn khăn tang theo phong tục truyền thống, dặn tôi phải cúi lạy các bà khi các bà đội khăn tang cho. Chúng tôi vẫn nói với nhau về những Tết tháng 7, tháng 5, những bãi soi mùa lạc, những trò chơi ngày nhỏ...
Bằng một cách nào đó, tôi nghĩ rằng, những sản phẩm lai tạo tự nhiên, theo lẽ tự nhiên sẽ bền bỉ và mạnh mẽ nhất. Cụ tôi, và giờ là ông nội tôi đã sống chọn lọc và lai tạo giá trị như thế - những cuộc đời mạnh mẽ, thành thực và ra đi thanh thản với các giá trị đó. Đến chúng tôi, chúng tôi cũng đang sống cuộc đời của những con lai trong một thế giới phẳng mà không phẳng này. Và chúng tôi biết mình sẽ mạnh mẽ, trung thực và thanh thản với các giá trị lai mà chúng tôi đang có. Tạm biệt ông./
Timeline: Trưởng thành từ đau thương.
Timeline là bộ phim điện ảnh Thái Lan đầu tiên tôi xem và cũng là bộ phim điện ảnh duy nhất của đất nước Chùa Vàng khiến tôi phải xem đi xem lại nhiều lần, mỗi khi muốn trốn khỏi HG với những mớ bùng nhùng công tư. Và mỗi lần xem, tôi đều trùm mình trong chăn, để mặc nước mắt chảy ra cho tới khi cạn kiệt. Tôi thấy mình là Thaen - chàng thanh niên nông thôn ngờ nghệch, rời khỏi vòng tay mẹ và thành phố tỉnh lẻ, bước ra ngoài đời lần đầu tiên và choáng ngợp Bangkok hoa lệ với những cô gái thành thị, yêu say đắm một người không thuộc về thế giới của mình; là Mat - mẹ Thaen, người sống cả đời với một tình yêu duy nhất, cho ước mơ lớn nhất của người mình yêu, và chăm lo cho con trai - sản phẩm của mối tình với chồng mình; là June bé nhỏ với tình yêu thầm lặng với Thae, lặng lẽ đi chuộc xe cho Thaen, lặng lẽ mua quà thay Orn tặng Thaen, lặng lẽ ươm một cành đào từ cây đào Thaen thích, lặng lẽ tập nấu một món ăn mà Thaen thèm, lặng lẽ ra đi và lặng lẽ biến mất khỏi cuộc đời như một người tốt; là chú Wat - một người tốt khác lựa chọn đi bên cuộc đời của mẹ con Thaen với một tình yêu bao dung không hy vọng, không chờ đợi hồi đáp. Timeline là một bộ phim đẹp dịu dàng nhưng nó khiến người xem đau đớn day dứt và hoài niệm về thanh xuân của chính mình. Những thanh xuân đẹp đẽ nhưng cũng đau thương. Những thanh xuân vật lộn tìm kiếm giá trị của chính mình và tự hỏi “ước mơ của mình là gì?”. Những thanh xuân với nhiều sai lầm phải trả giá bằng sự ân hận và nỗi đau không ai đau thay được. Và người ta trưởng thành từ những đau thương đó.
Thaen là một chàng trai tỉnh lẻ, mồ côi cha từ khi còn trong bụng mẹ. Cậu sống với mẹ ở một tỉnh miền núi của Thái Lan. Ký ức về cha chỉ thông qua những lá thư tình mẹ giữ lại và cậu vẫn thường đọc cho mẹ mỗi ngày. Cậu - như bao thanh niên khác, muốn thoát khỏi gia đình và khẳng định bàn thân bằng việc trốn thi vào Khoa Báo chí ở Bangkok thay vì học nông nghiệp để chăm lo trang trại dâu tây và nho của gia đình như mẹ cậu mong muốn. Ở Bangkok, câụ gặp June - người bạn gái thân học cùng lớp đại học, gặp các bạn bè và bắt đầu trải nghiệm những thói quen của thanh niên thành phố. Cậu bán chiếc xe đạp kỷ niệm của chú Wat, mua một chiếc xe mới. Cậu đòi mẹ đổi điện thoại thường sang Iphone và làm quen với rượu, tiệc tùng và lao vào yêu đơn phương say đắm chị Orn - một cô gái khoá trên học Khoa Điện Ảnh cùng trường. Những email và cuộc gọi về nhà cho mẹ thưa dần; những cuộc trò chuyện với June cũng ngắn và đổi thay. Trên con đường tìm kiếm bản thân, cậu lạc lối. Cho tới khi mẹ cậu nhập viện và June bỏ đi Nhật học không một lời từ biệt.
Thaen nhận ra rằng, mẹ mình đã nương vào những cánh thư tình xưa cũ của cha để có đủ sức mạnh nuôi cậu không lớn và chăm sóc cho nông trang nhỏ - ước mơ lớn của bố cậu. Cậu trở về bên mẹ và đau đớn hơn cả là khi cậu nhận ra mình nhớ June, cần June và yêu June tới mức nào thì cũng chính là lúc cậu biết tin June chết trên biển ở Nhật Bản khi nhảy xuống chiếc tàu du lịch cứu một em bé. Tôi ấn tượng nhất hình ảnh cậu nằm co mình như một con mèo trên sàn nhà với những nét phấn vẽ hình ảnh June, nức nở trong điện thoại với mẹ: “Con đau như tim vỡ”. Phân đoạn này có lẽ là phân đoạn thành công nhất của James Ji, cậu diễn viên sinh năm 1993 với khuôn mặt đẹp ở mọi góc cạnh. Cái dáng nằm đau đớn, cô độc, tiếc nuối và vật lộn với nỗi nhớ thương ấy, tôi đoán chắc không diễn viên Việt Nam nào diễn nổi. Hành trình từ tỉnh lẻ lên Bangkok của cậu thanh niên Thaen là hành trình trưởng thành đầy sôi nổi nhưng cũng đau đớn của tuổi trẻ. Để rồi, phút cuối, cái chết của người bạn gái đã khiến cậu nhận ra ý nghĩa của cuộc sống, điều mình thực sự muốn, thứ mình thực sự cần, sự hy sinh, trách nhiệm và yêu thương đích thực.
Timeline là một bộ phim đẹp - như đã nói ở trên. Nó đẹp từ nội dung, tới diễn viên, hình ảnh, màu sắc phim và âm nhạc. Ngay cả khi nói về những thứ xấu của con người, nó vẫn nói với giọng văn chương dịu dàng, vị tha. Nó là những mối tình đẹp của những người tốt, dù là mối tình đầu nhẹ nhàng dịu dàng của Thaen và June, những cảm xúc si mê của Thaen với Orn, hay là mối tính già giữa mẹ Mat và bố Thaen, giữa chú Wat và mẹ Mat... Tất cả đều khiến người xem hướng tới những cảm xúc tử tế nhất giữa con người với con người. Nó khiến tôi nhớ tới lời thoại của một nhân vật trong một bộ phim khác cũng do James Ji đóng “Anh hỏi em làm sao có thể yêu một người mà không hy vọng và thất vọng ư? Mẹ em vẫn luôn nói với em rằng: khi ta yêu bao dung, yêu không hy vọng đền đáp, yêu như chính nhu cầu yêu thươn tự nguyện của chính ta, thì khi đó ta sẽ bình yên yêu”. Lời thoại này tôi rất nhớ bởi nó giống như tinh thần của thầy tôi - sư thầy TV nói với tôi năm xưa “tình yêu đích thực là tình yêu không cầu đền đáp”. Tinh thần Phật Giáo này một lần nữa lại được thể hiện qua câu trả lời của mẹ Mat dành cho Thaen khi cậu hỏi mẹ: chăm sóc nông trang có phải ước mơ của mẹ không hay chỉ là ước mơ của bố? “Khi ta được làm những việc mà người ta yêu muốn làm, ta sẽ không cô đơn, ta sẽ luôn được ở bên người đó. Mẹ hạnh phúc vì đã thay bố chăm sóc nông trang này”. Cuối cùng, tinh thần này cũng đã một lần nữa được thể hiện trong thư Thaen gửi June “Thaen sẽ tiếp tục ước mơ của June, đi đến những vùng đất June muốn đi, làm những việc June muốn làm để tình yêu của chúng mình bất diệt”.
Tôi chợt nhận ra, Điện ảnh Việt Nam đang vật vã với những cuộc tranh luận kéo dài hàng chục năm nay, với câu hỏi “Nghệ thuật nên vị nghệ thuật hay nghệ thuật nên vị nhân sinh”. Nếu không quanh quẩn với những thước phim mua bản quyền, remake hời hợt, lời thoại nông cạn, thuê mướn ý tưởng (dù là ý tưởng về lòng yêu nước hay ý tưởng về nghề thuật) thì cũng quanh quẩn với chuyện nên cho cave lên phim hay không lên phim. Trong khi đó điện ảnh Thái Lan đã vượt ra khỏi Đông Nam Á và tiến gần tới kỹ thuật và nghệ thuật điện ảnh đích thực, đuổi sát một nền điện ảnh châu Á mới nổi là Hàn Quốc. Tinh thần Phật Giáo, tinh thần quốc gia, nhân sinh quan thế hệ được lồng ghép nhuần nhuyễn với những thước phim quảng bá hình ảnh du lịch của Thái Lan như Chiang Mai, Bangkok, Hua Hin và những giá trị văn hoá của dân tộc Thái. Màu sắc phim nhẹ nhàng, đằm thắm nhưng cũng không kém phần tươi sáng. Người ta xem phim, khóc, cười, đau đớn cùng nhân vật nhưng cũng khao khát được tới vùng đất nhân văn tươi đẹp đó. Đích đến của nghệ thuật suy cho cùng cũng chỉ cần như thế: khơi dậy những giá trị tốt đẹp và những khao khát ý nghĩa nhân văn của con người. Timeline đã làm được điều đó.
Tối nay tôi xem lại Timeline với B. Hai mẹ con nằm trong chăn ôm nhau xem. Thỉnh thoảng B lại hỏi “ Sao chị ấy làm thế?”, “Sao anh ấy khóc?” Mẹ phải dừng lại rất nhiều đoạn để giải thích cho anh ấy. Có hai đoạn anh ấy chạy ra khỏi chăn, giả vờ đi uống nước để chùi nước mắt. Mẹ làm như không biết, và để mặc anh ấy nhìn thấy nước mắt mẹ chảy. Anh ấy giả vờ mạnh mẽ, lại gần mẹ, mỉm cười hỏi “Mẹ đã khóc được mấy lít nước mắt rồi?”. Mẹ bảo anh ấy “Chúng ta không cần phải dấu khi chúng ta muốn khóc. Vì khóc không phải yếu đuối. Khóc cũng giống như cười, đều là cảm xúc của chúng ta. Thế nên, thật thà với cảm xúc của mình thì không có gì là xấu”. Anh ấy vâng rồi lại chui vào chăn xem tiếp. Kết thúc phim, mẹ bảo anh ấy “Chúng ta thật hạnh phúc vì chúng ta đều có đầy đủ bố mẹ và mọi người đều yêu thương nhau, phải không con?”. “Chúng ta sẽ luôn nói yêu nhau nhỉ?”. Anh ấy lại vâng. Lát sau, anh ấy bảo “Tối mai con về ngủ với bố, mẹ nhé”.
Với tôi, mỗi lần muốn chạy trốn, tôi lại xem Timeline bởi nó níu tôi lại với niềm tin về trách nhiệm của mỗi con người với cuộc đời mình và cuộc đời người thân. Và tất nhiên, mỗi lần xem Timeline - Lá Thư và Những Kỷ Niệm (tên phim tiếng Việt), tôi lại tự hỏi mình: Nếu sau này mình biến mất khỏi cuộc đời này, có ai muốn thay mình thực hiện nốt ước mơ của mình không? Lần xem gần đây nhất (3 tuần trước), sau khi xem xong, tôi bốc máy gọi cho một người bạn cũ đang bán bảo hiểm Manulife để đăng ký mua bảo hiểm nhân thọ cho mình và người thụ hưởng là B.