Cơ chế thực thi quyền chủ sở hữu Nhà nước: Bất cập không chỉ của SCIC
(DĐDN) - Ở nước ta, cơ chế thực hiện quyền sở hữu Nhà nước tại DN sử dụng vốn nhà nước (gọi chung là DN Nhà nước – DNNN) liên tục biến đổi theo thời gian. Nhưng ngay cả cơ chế thực thi quyền sở hữu NN của SCIC cũng không tránh được bất cập.
SCIC được thành lập theo mô hình của Temask Holdings
nhưng hiệu quả và hiệu lực quản lý còn kém xa
Từ 2006 đến nay, SCIC đã thực hiện tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn NN tại hơn 950 DN; thực hiện tái cơ cấu lại các DN đã tiếp nhận, thực hiện rút vốn tại 600 DN, bàn giao lại cho các bộ, địa phương một số DN và hiện đang thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn NN tại trên 350 DN cổ phần. Theo lộ trình đến năm 2015, SCIC chỉ nắm giữ vốn tại khoảng 100 DN.
Khi SCIC thiếu... chuyên gia
Tuy nhiên, cơ chế sử dụng nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ sắp xếp DN Trung ương rất không rõ ràng dẫn đến nhiều nghi ngại. SCIC cũng gặp trở ngại khi sử dụng cơ chế người đại diện phần vốn NN tại DN. Một phần, người đại diện do SCIC cử xuống DN không đủ sức tư vấn về chiến lược kinh doanh, giải pháp thị trường và công nghệ cho các Cty trực thuộc. Mặt khác SCIC không có đủ chuyên gia để đảm nhận hiệu quả chức năng đại diện tại DN nên việc kiểm soát các cá nhân này chủ yếu thực hiện theo kiểu hành chính với hai kênh chính là báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo. Các DN chuyển về SCIC làm ăn hiệu quả phần lớn là các DN trước đó đã hoạt động tốt như Cty cổ phần Sữa VN (Vinamilk), Cty cổ phần Viễn thông FPT, TCty CP Tái bảo hiểm VN (VINARE)...
Các DN do SCIC quản lý có ưu điểm là không phải chịu sự can thiệp của các cơ quan hành chính cấp trên nên hoạt động rất tự chủ và năng động. Tuy nhiên, cảm nhận chung của các DN này là SCIC không có ảnh hưởng nhiều đến họ. Người đại diện phần vốn NN do SCIC cử vào bộ máy quản lý DN ít có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh và hiệu quả hoạt động của DN nếu là người do SCIC cử xuống để kiêm nhiệm chức năng đại diện phần vốn NN. Người đại diện phần vốn nếu là người của DN được SCIC ủy quyền thì có xu hướng hành động vì lợi ích cục bộ của DN hơn là của SCIC. Về mọi phương diện, SCIC mới kiểm soát được vốn NN trên sổ sách theo hướng giá trị phần vốn của NN trên bảng cân đối tài sản của DN không thấp hơn giá trị vốn được giao quản lý. Việc rút vốn hay đầu tư thêm vào DN nào đó được thực hiện theo lệnh của cấp trên (Bộ Tài chính hoặc Thủ tướng chính phủ). SCIC chưa thực hiện được vai trò hoạch định chiến lược đầu tư như một Cty tài chính hoạt động hướng đến tối đa hóa lợi nhuận trên danh mục đầu tư. Chính vì thế SCIC được thành lập theo mô hình của Temask Holdings nhưng hiệu quả và hiệu lực quản lý còn kém xa.
Chính vì vậy, đối với SCIC, nên áp dụng cơ chế kinh doanh, tách các chức năng quản lý quỹ thuộc NSNN ra khỏi SCIC để chuyển về nhà băng NN hoặc Kho bạc NN. Để SCIC quản lý Quỹ hỗ trợ sắp xếp DN Trung ương là nhập nhằng giữa tài sản công và vốn kinh doanh của SCIC. Hơn nữa, trong quản lý tài chính của SCIS, nhất là khi rút vốn NN và thu lãi từ phần vốn NN, cần làm rõ phần vốn nào phải chuyển về cho NSNN theo nghĩa tài sản của chủ sở hữu, phần nào được để lại tăng vốn chủ cở hữu cho SCIC và phần nào khuyến khích cán bộ của SCIC.
Trong quy chế người đại diện của SCIC, cần tăng quyền chủ động cho người đại diện, cho phép người này có thể tự chủ quản lý DN sử dụng vốn chi phối của NN hoàn thành các nhiệm vụ NN giao và chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả hoạt động của DN.
Vốn NN tại DN ở nước ta không phải là sở hữu riêng của bộ máy NN mà là một hình thái của sở hữu toàn dân giao cho bộ máy NN quyền đại diện kiểm soát và quản lý vì lợi ích chung của quốc gia, dân tộc. Do tính chất đại diện đó nên không có một cá nhân nào có đủ thẩm quyền để ra quyết định về đầu tư và kinh doanh vốn NN như vốn thuộc sở hữu tư nhân. Vì vậy, để có quyết định đầu tư, quản lý, sử dụng vốn NN cần cơ chế đại diện gián tiếp, song cơ chế đó phải phù hợp với kinh doanh theo nguyên tắc thị trường. Những yếu tố quản lý hành chính phải được thể chế hóa bằng luật rõ ràng, minh bạch và phải được kiểm tra, giám sát bằng cả hệ thống lập pháp, tư pháp và hành pháp chứ không thể chỉ được giao cho Chính phủ như hiện nay.
Ngoài ra, hệ thống chuỗi các cơ quan và cá nhân thực hiện quyền sở hữu NN cần được rút ngắn lại và phân định trách nhiệm rõ ràng hơn. Các TCty và tập đoàn do Thủ tướng trực tiếp quản lý cần phải được hỗ trợ bởi hội đồng hoặc ủy ban (Bộ Tài chính và Bộ KH - ĐT có trách nhiệm tham gia Hội đồng tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ thực thi quyền chủ sở hữu. Thậm chí có thể mời tư vấn là người nước ngoài tham gia Hội đồng) giúp Thủ tướng ra quyết định và giám sát đầy đủ quyền của chủ sở hữu NN. Phân định rõ nghĩa vụ phi kinh tế của các TCty, tập đoàn và bù đắp của NSNN cho thực hiện các nghĩa vụ của đó các TCty, tập đoàn nhằm tách biệt hoạt động kinh doanh ra khỏi các nghĩa vụ chính trị, xã hội mà Thủ tướng giao cho DN thực hiện. Như vậy chuỗi các đầu mối thực hiện quyền chủ sở hữu các TCty, tập đoàn trực thuộc Thủ tướng Chính phủ chỉ còn hai: Thủ tướng và người đứng đầu TCty, tập đoàn với trách nhiệm cá nhân được xác định rõ ràng và chế tài ở mức cao.
Vấn đề của DNNN hiện nay phải đi vào quản trị hiện đại, trong đó giao quyền tự quyết rộng rãi cho người đại diện phần vốn NN tại DN đi đôi với tuyển chọn nhân tài và giám sát chặt chẽ.
Các DN do Bộ và UBND cấp tỉnh quản lý nên được xác định lại cơ chế thực hiện quyền sở hữu NN. Nên chăng cần thành lập Cty tài chính trực thuộc UBND cấp tỉnh, bộ chuyên ngành để kinh doanh vốn NN do UBND cấp tỉnh, Bộ chuyên ngành là đại diện chủ sở hữu. Như vậy, chuỗi các đầu mối thực hiện quyền của chủ sở hữu NN tại các DN này sẽ được rút ngắn còn lại ba: Bộ trưởng hoặc chủ tịch UBND cấp tỉnh - Cty tài chính kinh doanh vốn NN – người đại diện phần vốn NN tại DN. Trong chuỗi đại diện này, chủ tịch UBND cấp tỉnh và Bộ trưởng chịu trách nhiệm về phương hướng, nhiệm vụ NN giao cho DN đi đôi với trách nhiệm tạo điều kiện để DN hoạt động bình thường; Cty tài chính chịu trách nhiệm về hiệu quả vốn đầu tư; người đại diện phần vốn NN tại DN được ủy quyền thực hiện chức năng quản trị DN sử dụng vốn NN theo cam kết về thực hiện nhiệm vụ NN giao và hiệu quả kinh doanh.
Quản lý DN sử dụng vốn NN, như mọi DN khác, xét cho cùng phụ thuộc vào tài năng, đạo đức và cơ chế ủy quyền đi đôi với giám sát chặt chẽ của chủ sở hữu. Các DN sử dụng vốn NN, nếu cũng thực hiện chế độ ủy quyền chặt chẽ như tư nhân thì lý nào lại không hoạt động hiệu quả bằng DN tư bản tư nhân. Thêm nữa, trong Cty NN còn có cổ đông người lao động với tỷ lệ chiếm giữ cổ phần không phải là nhỏ. Nếu phát huy được tính tích cực và vai trò giám sát của cổ đông người lao động phối kết hợp với cổ đông NN thì CTCP NN còn có nhiều tiềm năng hơn nữa để phát triển. Chính vì vậy, vấn đề của DNNN nói chung, Cty CP NN nói riêng hiện nay không phải là ở chỗ thu hẹp hay mở rộng, mà phải đi vào quản trị hiện đại, thực chất, trong đó giao quyền tự quyết rộng rãi cho người đại diện phần vốn NN tại DN đi đôi với tuyển chọn nhân tài và giám sát chặt chẽ họ. Đó là khâu quyết định để nâng cao hiệu quả DNNN.
Đi đôi với hình thành đội ngũ doanh nhân cộng sản, cần xác định rõ trách nhiệm cá nhân của các công chức trong các cơ quan hành chính NN đối với quản lý và sử dụng hiệu quả vốn NN tại DN, dứt khoát xóa bỏ chế độ đại diện chủ sở hữu theo kiểu cha chung không ai khóc.
Cuối tháng 5/2014, TAND thành phố Hà Nội đã thụ lý đơn mở thủ tục phá sản của Cty TNHH MTV vận tải Viễn dương (Vinashinlines) – đơn vị trực thuộc Vinalines. Cùng thời điểm này, đơn vị khác của Vinalines là Cty CP Vận tải Dầu khí Việt Nam (Falcon) cũng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại TAND TP HCM. Việc cho phá sản các DNNN thua lỗ không còn khả năng hồi phục trả nợ không chỉ là điều rất nên làm mà quan trọng hơn đây cũng là cách để DNNN thực sự tái sinh - đáp ứng đúng yêu cầu và trách nhiệm của loại hình DN này trong tổng thể nền kinh tế.
Việc Vinashinlines và Falcon "được" mở thủ tục phá sản là theo quyết định của Chính phủ, căn cứ theo Đề án tái cơ cấu Vinalines. Và quá trình 2 DN này "chờ được chết" đã gây thiệt hại vô kể về tiền bạc của Nhà nước.
Cho tới năm 2013, vấn đề trầm trọng của Vinashinlines mới chính thức được thừa nhận trong đề án tái cơ cấu của Vinalines, bằng đề xuất cho bán tàu, phá sản DN. Và thêm nửa năm nữa để tòa án thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Khi ấy, thiệt hại do lỗ và chi phí để duy trì hoạt động cho Cty này đã lên tới cả nghìn tỷ đồng. Sự th���a nhận về khả năng tồn tại của Vinashinlines đã được thực hiện quá muộn màng và rối rắm là nguyên nhân trực tiếp đưa tới thiệt hại này.
Câu chuyện tương tự cũng đã diễn ra tại Falcon. Sau quá trình chờ đợi gần 3 năm, tới ngày 8/4/2014, Cty này mới tổ chức được Đại hội đồng cổ đông bất thường lần 2 để thông qua quyết định phá sản. Số nợ của Falcon lên tới trên 2.800 tỷ đồng, gấp 4 lần vốn điều lệ năm 2011. Từ năm 2009 đến nay, mỗi năm Falcon lỗ hàng trăm tỷ đồng.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến hết năm 2013 đã có 6.376 DNNN được sắp xếp lại. Quá nửa trong số đó, (3.659 DN) là được cổ phần hóa. Và 1.022 DN được chuyển thành Cty TNHH MTV. Nhưng chỉ có 380 DN được giao, bán, 313 DN cho giải thể, và chỉ có 92 DN được xác định sẽ cho phá sản.
Đó cũng mới chỉ là xác lập về mặt số học. Xử lý về pháp nhân DN thì dễ, chỉ cần quyết định phê duyệt là coi như số phận DN đã được định đoạt. Nhưng xử lý những vấn đề về lao động, tài chính của những DN này thì đích thực là một mớ bòng bong, mà chỉ ý chí áp đặt yêu cầu ngày giờ phải "xử lý" xong sẽ không có tác dụng. Và sau nhiều năm chậm rãi, giờ thì Bộ Tài chính hạ quyết tâm, sẽ cùng các bộ, ngành đẩy nhanh chương trình sắp xếp DN Nhà nước. Mục tiêu đặt ra là phải hoàn thành chương trình này trong năm 2015. Và biện pháp chủ chốt là gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả tổ chức thực hiện Đề án tái cơ cấu DN. Nói đơn giản hơn là sẽ "xử lý" người đứng đầu DN nếu chương trình tái cơ cấu không được thực hiện. Biện pháp hỗ trợ là tập trung hoàn thiện cơ chế giúp việc đẩy nhanh sắp xếp lại DN Nhà nước. Nhưng đây lại là một thách thức mới.
Vì xây dựng cơ chế mới hỗ trợ sắp xếp lại DN nhà nước thực sự là công việc đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, chứ không hề đơn giản như rao bán một sản phẩm đã thành hình.
“Phượng hoàng lửa” phải cháy ra tro, rồi từ đống tro tàn ấy, một con phượng hoàng mới, mạnh mẽ hơn, trẻ trung hơn sẽ hiển hiện - DNNN cũng vậy, “chết” cũng là một cách tái sinh.
PGS TS Trần Thị Minh Châu
Học viện Chính trị quốc gia HCM
Từ khoá : bán đất hóc môn