Những Phần Thiết Yếu Để Tu Tập Thiền – Sayadaw U Kumarabhivamsa
Quyển sách này dựa vào lời dạy pháp dhamma của Sayadaw U Kumarābhivaṃsa về Padhāniyaṅga-Sutta và Meghiya-Sutta đã được giảng tại Pa-Auk Tawya Tat-Oo Dhamma Yeikhthar (mở rộng), Pyin Oo Lwin, Myanmar, cũng như những quốc gia khác như là Singapore, Thailand and Vietnam.
Tuệ quán đã tìm thấy trong Padhāniyaṅga và Meghiya Sutta liên quan đến tu tập thiền rất lớn. Tôi hy vọng quyển sách này sẽ ủng hộ, khuyến khích nhiều người tu tập thiền để thành công trong thiền và kinh nghiệm sự yên tĩnh, hạnh phúc và giải thoát bên trong.
Vì không được hài lòng với việc dạy của tôi về hai chủ đề Padhāniyaṅga và Meghiya Sutta, nên tôi không có ý định làm quyển sách này. Tuy nhiên do yêu cầu từ một số học trò, tôi cho phép họ sao lại và viết sách này.
Mong tất cả độc giả và thiền sinh ứng dụng pháp dhamma trong sách này để biết rõ Nibbāna sớm nhất có thể. Mong cho tất cả chúng sanh được an vui.
Pa-Auk Tawya (Pyin Oo Lwin)
Lời ghi của nhóm Biên soạn
Quyển sách này dựa vào lời dạy pháp dhamma của Sayadaw U Kumarābhivaṃsa về Padhāniyaṅga-Sutta và Meghiya-Sutta đã được giảng tại Pa-Auk Tawya Tat-Oo Dhamma Yeikhthar (mở rộng), Pyin Oo Lwin, Myanmar, cũng như những quốc gia khác như là Singapore, Thailand and Vietnam.
Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của chúng tôi đến Sayadaw U Kumarābhivaṃsa vì tất cả lời dạy của Ngài và cho phép chúng tôi sao chép lại quyển sách này.
Việc chuyển ngữ một số tích truyện và Pāḷi-Anh từ những nguồn đã liệt kê trong phần nguồn tham khảo. Trong lúc nói, Sayadaw U Kumārābhivaṃsa cũng cung cấp một số tài liệu chú giải. Sự điều chỉnh nhỏ về từ ngữ đã được thực hiện khắp quyển sách để làm cho người đọc dễ hiểu hơn. Sự cảm kích của chúng tôi đến những người đã giúp hiệu đính và đưa những ý kiến, đến những thí chủ, và những ai đã tham gia trong việc làm và phân phát quyển sách này. Chúng tôi xin cáo lỗi về bất cứ những sai sót hay lỗi lầm đã phạm.
Mong cho quyển sách này là một nguồn cảm hứng cho những ai chưa tu tập thiền. Mong cho quyển sách này hỗ trợ những thiền sinh vượt qua tất cả những khó khăn trong tu tập thiền. Mong cho tất cả có thể tu tập pháp dhamma để biết rõ Nibbāna ngay trong kiếp sống này.
Pa-Auk Tawya Dhamma Yeiktha (mở rộng)
Trước khi nói về năm ‘chi tinh cần’ (Padhāniyaṅga), bạn có biết giáo pháp của Đức Phật là chi hay chăng? Nếu chúng ta tóm tắt giáo pháp của Đức Phật, nó gồm ba học, đó là: giới học (sīla sikkhā), định học (samādhi sikkhā) và tuệ học (paññā sikkhā). Ở đây, tôi sẽ giải thích tóm tắt.
Sīla hay giới, là phần học đầu tiên trong Phật pháp. Người tuân theo giới được xem là người tốt, còn người luôn phá những điều học của giới sẽ không có tiếng tốt trong xã hội.
Nhiều vấn đề trong thế giới ngày nay phát sanh do người không tuân theo các những điều học. Con người giết lẫn nhau, trộm cắp tài sản của người khác, tà dâm, nói dối, uống rượu, và vân vân. Nếu con người tuân theo và bảo vệ những học giới, những cuộc chiến tranh và xung đột trong thế giới sẽ diệt. Vì tiếp tục đấu tranh và giết vì lợi ích thế gian, thế giới sẽ không bao giờ được yên ổn, xã hội sẽ vẫn trong sự chấn động và con người sẽ tiếp tục sống với sự lo lắng và ước ao. Nếu mọi người tuân theo giới (sīla) tốt, thế giới sẽ là nơi yên bình hạnh phúc hơn nhiều.
Đức Phật đã giải thích năm loại lợi ích cho những ai hoàn thành tịnh giới[1]:
(1) Đạt tới sự thịnh vượng và giàu sang (mahantaṃ bhogakkhandhaṃ adhigacchati),
(2) Đạt tới sự nổi danh (kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati),
(3) Tự tin gia nhập hội chúng hay nhóm người dù đó là Thánh, Brahma, chủ hộ hay người tu khổ hạnh (yaññadeva parisaṃ upasaṅkamati),
(4) Chết với một tâm yên tịnh (asammūḷho kālaṅkaroti),
(5) Vào lúc thân suy yếu, sau khi tử, được tái tục trong cõi vui, một thế giới chư thiên (kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati).
Sự sống là vô thường. Ngay khi chúng ta bắt đầu sự sống, chúng ta cần chấp nhận rằng một ngày tử sẽ đến. Nếu chúng ta không đạt đến Arahant trong kiếp sống này, chúng ta sẽ tiếp tục tiến trình tái tục sau khi tử. Không như người có sự đạt đến Thánh cao quí có thể chọn việc tái tục còn lại, việc tái tục đối với một người thường thì không biết rõ. Nó có thể là những cõi khổ, cõi nhân loại, hay những cõi trời. Nhưng nếu người có thể tuân theo và bảo vệ thanh tịnh giới cho đến lúc tử, họ không cần lo lắng về nơi đến kế tiếp. Họ sẽ có một tái tục đến một nơi nhàn cảnh.
Nếu bạn có thể tuân theo thanh tịnh giới, có nhiều nơi cho bạn lưu trú. Ví dụ, nếu bạn không có nhiều tiền, bạn có thể đến Trung tâm Thiền Pa Auk của chúng tôi để tu tập Pháp Dhamma. Chúng tôi có thể chăm sóc và ủng hộ bạn để tu tập thiền. Chúng tôi có nhiều thí chủ rộng lượng, là người muốn làm để ủng hộ những người tuân theo giới tốt. Chúng tôi sẽ ủng hộ việc tu tập của bạn đến thanh tịnh giới và thiền.
Dù bạn có là một Phật tử hay không, nếu bạn phạm vào những học giới và làm việc giết, trộm cắp hay vân vân, bạn gieo những hạt giống của nghiệp (kamma) bất thiện, bạn sẽ chịu quả khổ. Nếu bạn đã thực hiện thanh tịnh giới, bạn đã gieo những hạt giống của nghiệp thiện và chắc chắn sẽ chịu những quả tốt và vừa ý. Bằng cách biết những lợi ích của việc tuân theo giới (sīla), nó truyền cho bạn thêm cảm hứng và năng lượng để trau dồi việc tu tập này. Nó không chỉ sẽ cho những lợi ích trong kiếp sống này mà còn ở kiếp sống vị lai.
Dù là bằng cách tuân theo thanh tịnh giới, bạn sẽ vẫn thấy nó rất khó để làm tâm luôn trong trạng thái tốt, tích cực. Tâm vẫn phối hợp với tham (lobha), sân (dosa), si (moha). Với những phiền não như thế, tâm không thể đạt đến sự yên tịnh và hạnh phúc. Như thế, để làm cho tâm thanh tịnh, yên tịnh hay vui, bạn cần tu tập bước thứ hai của lời Phật dạy; tu tập định học (samādhi sikkhā).
Samādhi Sikkhā (Định Học)
Để tu tập định, Đức Phật dạy bốn mươi đề mục[2] thiền chỉ tịnh (samatha). Không có tham (lobha), sân (dosa), si (moha) sanh theo tâm khi một thiền sinh chăm chú miệt mài theo một đề mục thiền đến một giờ, hai giờ, ba giờ đồng hồ, hay lâu hơn. Vì tạm thời vượt qua những danh pháp phiền não, tâm trở nên yên tĩnh, lặng lẽ, tĩnh lặng.
Trong bốn mươi đề mục thiền chỉ tịnh (samatha), bạn có thể chọn một đề mục nào phù hợp theo căn tánh của bạn. Nhưng tại Trung tâm Thiền Pa Auk, chúng tôi thường bắt đầu bằng ‘Niệm theo hơi thở vào, hơi thở ra’ (Ānāpānassati). Từ kinh nghiệm của nhiều thiền sinh, chúng tôi biết rằng, khi một thiền sinh tu tập siêng năng Ānāpānassati, định sẽ chắc chắn phát triển. Ānāpānassati có thể được tu tập lên đến thiền thứ tư (4th jhāna). Khi đạt được sự chăm chú miệt mài, tâm có thể đình trụ ở một cảnh trong thời gian dài và trở nên rất yên tĩnh, lặng lẽ, tĩnh lặng. Không có những trạng thái bất thiện sanh theo trong khi ấy.
Ngay cả những ý muốn về sự thịnh vượng vật chất, nếu bạn có định mạnh, bạn có thể trú một mình một cách vui sướng và hạnh phúc trong rừng. Do tu tập, bạn sẽ trực tiếp kinh nghiệm tất cả sức mạnh của định và những lợi ích của nó.
Tuy nhiên, ngay cả với trạng thái định sâu này, sự yên tĩnh, tĩnh lặng, một thiền sinh không có nhổ bỏ những trạng thái của căn danh bất thiện. Nếu một thiền sinh ngưng tu tập thiền, định của vị ấy có thể sẽ giảm. Định an chỉ (samatha) hay định hiệp thế (lokiya) không phải là một thành tựu vĩnh cửu. Nó có thể suy giảm hay biến mất khi việc tu tập bị ngưng. Kế đến, những trạng thái của danh bất thiện có thể xuất hiện trở lại và thiền sinh dễ phạm những học giới nếu không cẩn thận. Chỉ cần những căn danh phiền não còn, bất cứ hạnh phúc nào đã đạt do thiền chỉ tịnh (samatha) là không vĩnh cửu Đó là tại sao thiền sinh cần tiếp tục tu tập thêm bước cuối theo lời dạy của Đức Phật, đó là tuệ học (paññā sikkhā).
Ở Trung tâm Thiền Pa Auk, sau khi tu tập phát triển định, các thiền sư sẽ hướng dẫn thiền sinh về tu tập thiền theo bốn giới (dhātu). Qua thiền bốn giới, một thiền sinh có thể thấy biết rõ hai mươi tám thứ sắc (rūpa). Sau khi hoàn thành việc thấy biết rõ về sắc, một thiền sinh sẽ tiếp tục quan sát thấy biết rõ danh (nāma). Với một nền tảng vững chắc của thiền chỉ tịnh (samatha), thiền sinh sẽ có khả năng quan sát thấy biết rõ những thực tính siêu lý của danh sắc (nāma-rūpa) theo thực tính như vậy.
Để hiểu điều này, bạn cần biết rằng Đức Phật dạy về bốn loại thực tính siêu lý hay pháp siêu lý (paramattha dhamma). Chúng là những gì?
Nibbāna (vắng mặt sắc, danh, và khổ; cùng tột an vui hạnh phúc).
Tâm (citta) và sở hữu tâm (cetasika) là thực tính siêu lý của danh (nāma). Kế đến chúng ta có thực tính siêu lý của sắc (rūpa) và Nibbāna[3]. Ngoài việc tu tập phát triển định sâu, một người chỉ có thể thấy sự thật chế định như là bhikkhu, sayalay tu nữ, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, v.v… Theo thực tính siêu lý, không có pháp như là bàng sanh, người nhân loại, chư thiên, chư Phạm thiên, và v.v…, chỉ có những danh và sắc siêu lý. Không có định, người chỉ có thể biết những pháp chế định và thấy dưới dạng khối, rắn chắc. Nếu bạn muốn thấy những danh và sắc siêu lý, bạn phải tu tập một trong những đề mục thiền để phát triển định. Dựa vào định này, một thiền sinh tiến lên tu tập thiền bốn giới (dhātu). Bốn giới (dhātu) là chi? Chúng là địa (paṭhavī), thủy (āpo), hỏa (tejo), phong (vāyo). Khi thiền sinh quan sát thấy biết rõ theo bốn giới này trong toàn thân của họ từ đầu đến bàn chân và từ bàn chân đến đầu, lặp đi lặp lại nhiều lần, họ sẽ kinh nghiệm thân của họ như một khối của 4 giới[4]. Khi điều này xảy ra, tưởng về ‘tự ngã’ tạm thời biến mất. Thiền sinh kinh nghiệm rằng không có đàn ông, đàn bà, v.v…
Sau khi có thể quan sát thấy biết rõ theo bốn giới nội phần trong tự thân, ngoại phần bạn cũng có thể quan sát nhà, xe và thấy chúng theo thực tính siêu lý chỉ là những nhóm của bốn giới. Khi thiền sinh hoàn thành việc thấy biết rõ bốn giới, họ sẵn sàng tiếp tục với việc tu tập về thiền đề mục sắc (sắc nghiệp xứ – rūpa kammaṭṭhāna), quan sát theo hai mươi tám thứ sắc[5].
Trong cuộc sống hằng ngày, bạn có thể không nghĩ rằng thân và tâm của chúng ta đang thay đổi, sự thật thân và tâm luôn thay đổi này có thể không rõ ràng với bạn. Bằng cách xem lại việc làm sao bạn nhìn năm nay so với năm rồi, bạn có thể thấy một số thay đổi tổng quát. Để biết và thấy tính thay đổi này ở mức sâu nhất về những thực tính siêu lý, bạn phải phát triển định đủ mức, chỉ khi ấy bạn sẽ thấy trạng thái tự nhiên của pháp siêu lý theo thực tính như vậy.
Sau khi quan sát thấy biết rõ sắc, thiền sinh có thể tiến lên quan sát theo danh qua việc tu tập thiền đề mục danh (danh nghiệp xứ – nāma kammaṭṭhāna). Kế đến, sau khi thiền sinh có thể thấy biết rõ danh sắc (nāma rūpa), thiền sinh phải quan sát các nhân hay duyên của chúng, đó là quan sát theo pháp liên quan tương sinh (paṭicca samuppāda). Pháp liên quan tương sinh là về các nhân và quả hoạt động ra sao qua ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Đức Phật dạy bốn phương pháp để quán theo pháp liên quan tương sinh, tùy theo tính nết của người nghe, và có một phương pháp thứ năm do Tôn giả Sāriputta dạy.
Tại tu viện Pa-Auk thường chỉ dạy hai phương pháp; phương pháp thứ nhất và thứ năm. Phương pháp thứ nhất ví dụ đã ghi lại ở tại Mahānidāna-Suttaṃ thuộc Dīgha-Nikāya và Nidāna-Vagga (Phần Nhân duyên) thuộc Saṁyutta-Nikāya. Phương pháp thứ năm đã ghi chép trong Paṭisambhidā-magga, Dhammaṭṭhiti-ñāṇa-niddeso.
Chỉ sau khi bạn có khả năng quan sát thấy biết rõ danh sắc (nāma rūpa) và các duyên của chúng, thì bạn có thể thấy trạng thái của chúng. Trạng thái của chúng là chi? Chúng luôn sanh và diệt với tốc độ phi thường. Ở giai đoạn siêu lý (paramattha) này, bạn có thể bắt đầu thiền theo danh sắc (nāma rūpa) và các nhân của chúng thì vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta).
Tất cả danh sắc (nāma rūpa) đều vô thường (anicca) vì luôn sanh và diệt. Vì chúng vô thường, ngay khi chúng sinh khởi chúng diệt, vì vậy chúng thì khổ (dukkha). Danh sắc (nāma rūpa) thì vô ngã (anatta), vì nếu có ‘ngã’ (atta) chúng sẽ hiểu theo sự mong muốn của chúng ta, không bị bịnh, không bị già và không bị chết. Nhưng do tính vô ngã, chúng ta bị bịnh, già và chết. Khi chúng ta thiền theo danh sắc (nāma rūpa) là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) đây là tu tập về tuệ quán/ minh sát (vipassanā), như thế đây là tuệ học (paññā sikkhā).
Từng bước tuệ quán[6] qua tu tập minh sát (vipassanā) dần phát triển và mạnh mẽ làm suy yếu những phiền não cho đến khi thấy rõ đạo – quả (magga-phala) và mục tiêu hiểu biết rõ, giác ngộ, Nibbāna.
Đạt được Nibbāna, nghĩa là một thiền sinh đã bắt đầu hoàn thành sự trừ tiệt những phiền não bằng cách đạt tới những giai đoạn sau của một bậc Thánh. Đó là:
Tuệ đạo thất lai (Sotāpatti-magga-ñāṇa) trừ tiệt ba pháp triền (saṃyojana):
Thân kiến (sakkāya-diṭṭhi),
Hoài nghi (vicikicchā), là nghi về tam bảo, những kiếp sống quá khứ và vị lai, vận hành của nghiệp, v.v…
iii. Giới cấm thủ – (sīlabbataparāmāsa), là bám chặt, giữ chặt vào những nghi thức, lễ nghi sai trái.
Bây giờ, bậc Nhập lưu có tín bất động về Đức Phật, giáo Pháp và Tăng chúng, tín bất động về nhóm tam học, tín bất động về những kiếp sống quá khứ, tín bất động về những kiếp sống vị lai, tín bất động về pháp liên quan tương sinh (paṭicca samuppāda). Một người là bậc Nhập lưu không thể chấp giữ một tà kiến về sự vận hành của nghiệp nữa và không thể phạm, vượt quá năm điều học. Một bậc Nhập lưu sẽ chắc chắn đạt đến Ứng cúng (arahant) trong bảy kiếp sống, hoặc là một chúng sanh nhân loại, chư thiên hay Phạm thiên Brahma.
2. Sakadāgāmi (Bậc Nhất lai)
Tuệ đạo nhất lai (Sakadāgāmi-magga-ñāṇa) không trừ tiệt phiền não nào, mà làm suy yếu thêm những pháp triền về tham dục, sân hận, si mê. Một bậc Nhất lai (Sakadāgāmi) có thể tái tục trong thế giới nhân loại chỉ một lần và chắc chắn đạt đến Ứng cúng (arahant) trong kiếp sống đó.
Tuệ đạo Bất lai (Anāgāmi-magga-ñāṇa) trừ tiệt:
tất cả những dục ái (kāmarāga) còn lại,
tất cả những phẫn nộ, khuể phẫn (paṭigha), bao gồm hối hận.
Bậc Bất lai không thể tham gia vào hành vi nhục dục, hay phỉ báng, nói cay nghiệt, hay ác ý nữa. Ngài sẽ không bao giờ trở lại kiếp sống nhân loại hay chư thiên dục giới. Một bậc Bất lai (Anāgāmi) sẽ chắc chắn đạt đến Ứng cúng (arahant) là một Phạm thiên Brahma trong kiếp sau.
Tuệ đạo Ứng cúng (Arahatta-magga-ñāṇa) trừ tiệt:
vii. ái về vô sắc (arūparāga)
Tóm lại, bậc Ứng cúng (arahant) đã hoàn toàn trừ tiệt tham (lobha), sân (dosa) và si (moha). Hành động của bậc Ứng cúng (Arahant) không trợ sanh nghiệp (kamma) dù nghiệp bất thiện (akusaka kamma) hay nghiệp thiện (kusaka kamma). Tư (cetanā) của bậc Arahant chỉ là làm. Không còn tái tục nữa đối với một bậc Arahant.
Khi thiền sinh đạt Nibbāna, thì họ có thể sống thực sự yên tĩnh, vui và thanh thản một cách sâu sắc. Đây được gọi là pháp siêu thế (lokuttara dhamma). Một khi người thấy rõ Nibbāna, họ có thể không bao giờ mất sự đạt được này do sức mạnh của đạo và quả (magga – phala).
Bây giờ, bạn hiểu rằng giới học (sīla sikkhā), định học (samādhi sikkhā) và tuệ học (paññā sikkhā) là lời dạy của Đức Phật đưa chúng ta đến sự thoát khỏi khổ. Mục tiêu này là hạnh phúc cao nhất, Nibbāna. Bạn có thể đạt được pháp hạnh phúc bằng cách từng bước tu tập theo sự hướng dẫn của Đức Phật. Để đạt được Nibbāna, bạn nên tu tập thiền với năm chi phần cần thiết để tu tập thiền. Năm chi phần cần thiết này được gọi là “Padhāniyaṅga” theo Pāḷi.
Năm Chi Phần Cần Thiết Để Tu Tập Thiền (Padhāniyaṅga)
Tôi muốn chia sẻ pháp (dhamma) về năm chi tinh cần (padhāniyaṅga), là năm chi phần cần thiết để tu tập thiền, đã trích từ Aṅguttara Nikāya, Pañcakanipāta, dutiyapaṇṇāsakaṃ, nīvaraṇavagga, padhāniyaṅga sutta (5.53). Chúng là gì?
‘Saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṃ’
“Vị ấy đặt lòng tin vào sự giác ngộ của Như lai (Tathāgata). Đó là tín”.
Thiền sinh nên có lòng tin vào trí toàn tri của Đức Phật (Buddha), với sự hiểu biết rằng Đức Phật vốn có đầy đủ chín ân đức. Cũng thế, nên có lòng tin vào giáo pháp (Dhamma) và Tăng chúng (Saṅgha) và tin tưởng vào các pháp ấy.
Chín Ân Đức Của Phật (Buddha)
Arahaṃ – Ứng cúng, xứng đáng ở sự tôn kính cao nhất;
Sammā Sambuddha – Chánh đẳng giác, hoàn toàn tự giác ngộ;
Vijjācaraṇasampanna – Minh hạnh túc, trọn vẹn về chánh trí và hạnh;
Sugata – Thiện thệ, chỉ nói những điều lợi ích và sự thật;
Lokavidū – Thế gian giải, biết ba thế gian một cách tường tận.
a) Thế gian của chúng sanh hữu tưởng, ‘chúng sanh thế gian’ (satta-loka),
b) Thế gian của hiện tượng bị trợ tạo, ‘pháp hành thế gian’ (saṅkhāraloka),
c) Thế gian làm cơ sở của những cõi hiện hữu khác nhau, ‘hư không thế gian’ (okāsa-loka);
Anuttaro purisadamma-sārathi – Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu;
Satthā deva-manussānaṃ – Thiên nhân sư, thầy của trời deva và người;
Buddha – Phật, Bậc đã tự giác ngộ thấy rõ bốn Thánh đế và dạy người khác thấy rõ nó;
Bhagavā – Thế tôn, có đức tính với sáu phẩm chất cao quí (học trò không thể đạt được) huy hoàng (bhaga), đó là:
Issariya (cao nhất, tối cao),
Dhamma (tuệ về chín pháp siêu thế, tức là bốn đạo, bốn quả và Nibbāna),
iii. Yasa (danh tiếng và nhiều môn đồ),
Sirī (sự chói lọi của thân hoàn hảo),
Kāma (sức mạnh của việc hoàn thành), và
Payatta (cần cù vô song).
Appābādha (Sức khỏe, ít bệnh)
‘Appābādho hoti appātaṅko’
“Vị ấy mạnh khỏe, thoát khỏi bệnh.”
Tu tập thiền cần phải có một điều kiện sức khỏe tổng quát tốt. Theo lý tưởng, người tu thiền thoát khỏi những bệnh, không có bất cứ sự đau nào trong thân, có khả năng tiêu hóa tốt, không quá lạnh, không quá nóng, và tiêu hóa thích hợp. Những điều này cung cấp những điều kiện có lợi cho tu tập thiền. Ngày nay, một số người cố gắng cải thiện sức khỏe của họ bằng cách ăn kiêng lành mạnh và dùng phép trị giải độc tự nhiên.
“Vị ấy chân thật và không xảo trá.”
Thiền sinh phải chân thật và không xảo trá và tự bày tỏ phù hợp với người thầy sự thật hoặc tuân theo những bạn đồng tu của họ trong đời sống thanh tịnh.
Thiền sinh phải hết sức cố gắng từ bỏ những pháp bất thiện và đạt được những pháp thiện. Thiền sinh nên lập sự tinh tấn vững chắc trong việc hoàn thành pháp tròn đủ (pāramī) và không bao giờ ngưng thực hiện pháp thiện. Đây có nghĩa là bạn phải có nghị lực mạnh mẽ hay cố gắng hết sức. Nhưng sự tinh cần ở đây nhất là sự tinh cần liên quan đến thiền. Thiền sinh nên tu tập thiền với sự tinh tấn hết sức và không ngưng tu tập. Nếu bạn ngưng tu tập, bạn sẽ không đạt đến định sâu và sẽ không biết rõ Nibbāna.
Thiền sinh phải có trí của tuệ quán/ minh sát (Vippasanā-ñāṇa); tuệ quán ở đây nhất là nói đến ‘sanh diệt/ tiến thoái tuệ’ (Udayabbaya ñāṇa) của danh và sắc (nāma-rūpa) và các nhân của chúng. Ví dụ, bây giờ bạn đang đọc một bài luận về pháp (dhamma). Tâm bạn phối hợp với trí, nhưng nó chỉ là trí bình trường, không phải là tuệ quán (Vippasanā-ñāṇa).
Năm chi tinh cần (padhāniyaṅga) này cũng có thể được gọi là năm phần cần đến cho tu tập thiền để biết rõ Nibbāna. Khi bạn có năm chi phần này đầy đủ, bạn có thể biết rõ Nibbāna. Nếu bạn không có trau dồi năm chi phần này thì việc biết rõ Nibbāna là không thể. Bạn sẽ vẫn cần tu tập thêm. Trước khi chúng ta thảo luận chi tiết về chúng, trước tiên tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện. Bạn có biết hoàng tử Bodhi[7] hay chăng? (Bodhirājakumāra).
Hoàng tử Bodhi là con trai của vua Udena. Ông ta đã học nghệ thuật cưỡi voi và dùng gậy nhọn của người cha hoàng tộc của ông ấy. Như thế, ông ấy trở nên thành thạo trong việc thuần hóa voi. Một ngày nọ, hoàng tử Bodhi thỉnh Đức Phật (Buddha) và Tăng chúng (Saṅgha) của Ngài đến khánh thành lâu đài của ông ấy. Nhân cơ hội đó, Đức Phật (Buddha) đã giải thích từng bước cách làm sao Ngài đã tu tập Tam Học, đó là giới học (sīla sikkhā), định học (samādhi sikkhā) và tuệ học (paññā sikkhā) hay nhóm tám Thánh đạo[8] cho đến Ngài trở nên giác ngộ.
Sau khi Ngài đã hoàn thành thời thuyết pháp, hoàng tử Bodhi đã hỏi Đức Phật một câu hỏi:
“Hầu hết Đức Phật cao thượng, đối với người có một người dẫn đầu và người dạy như là Ngài, Ngài cần tu tập bao lâu để đạt đến giai đoạn Arahant và được hưởng sự yên tịnh và khinh an?”
“Này hoàng tử, trong mối liên quan này ta muốn hỏi ngươi một câu hỏi và ngươi có thể trả lời như ngươi thích: Ngươi có khéo léo trong việc cưỡi voi và dùng gậy nhọn điều khiển voi phải chăng?”
“Vâng, bạch Ngài, tôi khéo léo trong việc cưỡi voi và dùng gậy nhọn điều khiển voi[9]”.
Đức Phật tiếp tục hỏi hoàng tử:
“Này hoàng tử, giả sử một người biết ngươi khéo léo về nghệ thuật cưỡi voi và dùng gậy nhọn, đến học nghệ thuật cưỡi voi dưới sự giảng dạy của ngươi với những nhược điểm này:
1) Thiếu lòng tin: Vị ấy không đủ tin để đạt đến mức hay mục tiêu mong muốn.
2) Bệnh tật: Vị ấy đang khổ do bệnh nặng đủ để ngăn vị ấy không đạt đến mục tiêu mong muốn.
3) Không chân thật: Vị ấy không chân thật hay làm ra vẻ tự đắc và thái độ khoác lác ngăn chặn vị ấy khỏi sự đạt đến mục tiêu mong muốn.
4) Thiếu tinh cần: Vị ấy thiếu sự tinh cần nghiêm chỉnh để đạt đến mục tiêu mong muốn.
5) Thiếu trí: Vị ấy không đủ trí thông minh để đạt đến mục tiêu mong muốn.
Người đó có thể học nghệ thuật cưỡi voi và dùng cây nhọn từ ông hay chăng?”
“Thưa Đức Phật Tối thượng, sẽ không thể đào tạo một người có bất cứ một trong năm khuyết điểm để đạt đến mục tiêu mong muốn, nói chi đến việc đào tạo người có cả năm khuyết điểm”.
“Này hoàng tử, giả sử có người đến ông học nghệ thuật cưỡi voi và dùng gậy nhọn có những phẩm chất sau:
(1) Tín: Vị ấy có đủ lòng tin làm cho vị ấy có thể vươn tới mục tiêu mong muốn.
(2) Sức khỏe: Vị ấy không có bất cứ bịnh tật nào hay là có sức khỏe tốt để làm cho vị ấy có thể vươn tới mục tiêu mong muốn.
(3) Chân thật: Vị ấy không làm cho kỳ vọng sai, hay vị ấy là người có một tâm chân thật làm cho vị ấy có thể vươn tới mục tiêu mong muốn.
(4) Tinh cần: Vị ấy là người có sự tinh cần nghiêm chỉnh làm cho vị ấy có thể vươn tới mục tiêu mong muốn.
(5) Trí: Vị ấy là một người thông minh có khả năng đạt đến mục tiêu.
Điều đó sẽ có thể xảy ra đến ông để đào tạo một người có những phẩm chất như vậy đạt đến mục tiêu mong muốn hay chăng?
“Thưa Đức Phật Tối thượng, điều đó sẽ hoàn toàn có thể xảy ra đến con việc đào tạo một người đạt đến mục tiêu mong muốn, dù nếu vị ấy chỉ có một trong năm phẩm chất, hơn thế nếu vị ấy có cả năm phẩm chất”.
“Này Hoàng tử, theo cách tương tự có năm chi phần để cố gắng đạt bởi người tu tập thiền”.
Kế đến, Đức Phật tiếp tục giảng về năm ‘chi tinh cần’ (padhāniyaṅga) như tôi đã đề cập trước và được ghi chép trong Padhāniyaṅga Sutta như sau:
“Pañcimāni, bhikkhave, padhāniyaṅgāni. Katamāni pañca? Idha, bhikkhave, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṃ – ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti. Appābādho hoti appātaṅko; samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya; asaṭho hoti amāyāvī; yathābhūtaṃ attānaṃ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu; āraddhavīriyo viharati akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya kusalānaṃ dhammānaṃ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu; paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. Imāni kho, bhikkhave, pañca padhāniyaṅgāni.”
“Này chư Bhikkhu, có năm chi này trợ giúp tu tập thiền, những gì là năm?
(1) Ở đây, một bhikkhu có đầy đủ tín. Vị ấy đặt lòng tin vào sự giác ngộ của Như Lai (Tathāgata) như vầy: ‘Thế tôn là một bậc Ứng cúng (Arahant), hoàn toàn tự giác ngộ. Đã có đầy đủ minh và hạnh, chỉ nói những điều lợi ích và thật, người biết rõ thế gian, người dạy không ai hơn cho những người đã được dạy thuần (vô thượng sĩ điều ngự trượng phu), thầy của trời và người, bậc đã giác ngộ, Thế tôn.
(2) Vị ấy khỏe mạnh, không bị bệnh tật, có sự tiêu hóa đều đều đó là không quá lạnh hay không quá nóng mà vừa phải và phù hợp tu tập thiền.
(3) Vị ấy chân thật và thành khẩn, người bộc lộ bản chất thật của anh ấy cho thầy và những Tăng sĩ đồng tu.
(4) Vị ấy được chuẩn bị với sự cố gắng hết mình cho việc từ bỏ những pháp bất thiện và đạt được những pháp thiện; vị ấy mạnh mẽ chắc chắn trong việc ráng sức, không từ bỏ nhiệm vụ trau dồi những pháp thiện.
(5) Vị ấy là bậc trí; vị ấy đạt được trí quan sát thấy biết rõ sự sanh và diệt, đó là sự cao quí thâm nhập thấu rõ và đưa đến sự phá vỡ hoàn toàn khổ.
Này chư Bhikkhu, đây là năm chi phần trợ giúp tu tập thiền”.
Vì vậy, bạn nên cân nhắc bằng sự xem lại, dù bạn có năm chi này hay không. Nếu bạn không có năm chi này, bạn không thể đạt được Nibbāna. Bạn nên tu tập liên tục, phát triển và hoàn thành năm chi phần này.
Chúng ta hãy nghiên cứu chúng từng pháp một theo những gì được giải thích trong Chú giải.
Chú giải giải thích sự tin chắc của tín (saddhā) bằng cách chia chúng thành 4 loại:
Āgama-saddhā (lòng tin giáo pháp),
Adhigama-saddhā (lòng tin đạt được, chứng đạt),
Okappana-saddhā (lòng tin kiên định),
Pasāda-saddhā (lòng tin trong sạch, tịnh tín).
Tôi sẽ giải thích thêm về bốn loại tín này, ở phần kế sau.
[a] Āgama-saddhā (Lòng tin giáo pháp)
“Tattha sabbaññubodhisattānaṃ saddhā, abhinīhārato paṭṭhāya āgatattā āgamasaddhā nāma”.
“Tín của chư bồ tát (Bodhisatta) vẫn không lay chuyển từ khi ra ý quyết định trở thành một vị Phật (Buddha), đây được gọi là lòng tin giáo pháp – āgama-saddhā”.
Bồ tát (Bodhisatta) của chúng ta đã lập nguyện trở thành một vị Phật (Buddha) vào thời Phật Dīpaṅkara Buddha, bốn a-tăng-kỳ (asaṅkheyya kappa)[10] và một trăm ngàn kiếp (kappa)[11] qua. Từ lúc đó cho đến kiếp sống cuối của Ngài là hoàng tử Siddhattha, Ngài không bao giờ mất đức tin. Bodhisatta cần hoàn thành mười pháp tròn đủ (pāramī). Ví dụ, xả thí tròn đủ (dāna pāramī); đôi khi ngài xả thí gia đình hay những phần thân thể đến những ai cần hay muốn chúng. Đôi khi bạn cần xem lại những đức tính tinh thần cao cả của Bodhisatta. Bạn có thể nào làm những việc giống như Bodhisatta hay chăng?
Trong tất cả mười pháp tròn đủ (pāramī)[12], xả thí tròn đủ (dāna pāramī) là pháp dễ nhất cốt để trở thành một vị Phật (Buddha). Dù là pháp dễ tu tập nhất trong mười pháp, rất ít người có thể tu tập như vậy tận tình và liên tục. Nếu bậc tu tiến không thể tu tập như vậy, vị ấy sẽ ngưng dọc đường và sẽ không trở thành một vị Phật (Buddha). Bồ tát (Bodhisatta) của chúng ta không bao giờ quên hoàn thành những pháp pāramī cần thiết với mục đích đến trạng thái giác ngộ (Buddhatta). Suốt nhiều lần tái tục, Ngài xả thí vợ, con gái, con trai của ngài, nhiều thân phần khác nhau và mạng sống của Ngài. Nếu có ai hỏi bạn xả thí cặp mắt của bạn, bạn có sẵn sàng xả thí hay chăng? Vâng, sẽ rất là khó cho bạn làm điều đó. Dù nó rất khó, Bodhisatta không bao giờ quên hoàn thành pháp pāramī của Ngài. Từ lúc tiếp nhận lời tiên tri xác định về trạng thái giác ngộ và cho đến khi giác ngộ, Ngài không bao giờ mất đức tin của ngài. Vì lý do này, loại đức tin này được gọi là lòng tin giáo pháp – āgama-saddhā.
[b] Adhigama saddhā (Lòng tin chứng đạt)
“Ariyasāvakānaṃ paṭivedhena adhigatattā adhigama-saddhā nāma”.
“Lòng tin của các Thánh đệ tử vẫn không lay chuyển từ khi họ thấy rõ Nibbāna, đây được gọi là lòng tin chứng đạt adhigama-saddhā”.
Lòng tin này không như lòng tin của người phàm hay phàm đệ tử. Ví dụ, bây giờ bạn có thể có lòng tin, nhưng một số kinh nghiệm bất hạnh có thể xảy ra làm cho bạn mất lòng tin của bạn. Mặt khác, các Thánh đệ tử hay chư Thánh là người đã đạt ‘tuệ đạo’ (MaggaÑāṇa) hay thấy rõ Nibbāna, có lòng tin bất động và không thể thay đổi vào Đức Phật (Buddha), vào giáo Pháp (Dhamma), vào Tăng chúng (Saṅgha) và vào chính họ. Điều này sẽ không bao giờ biến mất trong cả kiếp sống của họ bất kể hoàn cảnh nào. Loại lòng tin này được gọi là lòng tin chứng đạt adhigama-saddhā bằng sự thấy rõ đạo và quả (Magga-Phala).
Liên quan đến loại lòng tin (saddhā) này, tôi sẽ kể một câu chuyện về người bệnh phong hủi Suppabuddha, bạn có bao giờ nghe nó trước đây hay chăng?
Chuyện Về Người Bệnh Phong Hủi Suppabuddha
Vào một dịp Đức Phật đang trú gần Rājagaha tại khu rừng tre, nơi trú ẩn của những con sóc. Và vào dịp đó, có một người bệnh phong hủi tên Suppabuddha, là một người nghèo và khốn khổ.
Vào lúc Đức Phật đang dạy pháp đến hội chúng lớn vây quanh. Có nhiều người trong thính chúng như là bhikkhu, bhikkhunī, cận sự nam (upasaka), cận sự nữ (upasika) và những người khác. Từ xa, người bệnh phong hủi Suppabuddha[13] đã thấy hội chúng đó. Vị ấy đi qua đến hội chúng lớn, thấy Đức Phật ở nơi đó và nghĩ đến tự thân, “Đó là bậc thầy Gotama dạy pháp. Tại sao tôi không lắng nghe pháp? Vị ấy ngồi hơi xa cách thính chúng ở một gốc của tu viện. Do bệnh phong hủi của vị ấy, vị ấy không dám đến gần những người khác.
Lòng ‘bi’ của Đức Phật (Buddha) bao trùm cả hội chúng với trí toàn giác của Ngài thấy rằng Suppabuddha có khả năng hiểu pháp. Hướng lời nói của Ngài đến Suppabuddha, Ngài ban thời pháp, dần dần nói về xả thí (dāna-kathā), nói về giới (sīla–kathā), nói về cõi trời (sagga–kathā); Ngài trình bày những điều trở ngại, sự thoái hóa, nhược điểm, tội lỗi của Dục dục (kāmānaṃ – ādīnavaṃ – okāraṃ – saṅkilesaṃ – kathā), và những phước báu, thuận lợi của sự từ bỏ (nekkhamma-ānisaṃsaṃ-kathā). Kế đến khi Đức Phật (Buddha) biết rằng tâm của Suppabuddha đã sẵn sàng thoát khỏi những pháp cái và trong sáng, Ngài giải nghĩa về Bốn Thánh Đế. Suppabuddha đã lĩnh hội Bốn Thánh Đế một cách sâu sắc và trở thành một bậc Nhập lưu (Sotāpanna). Mong muốn trình Đức Phật về thành tựu của vị ấy nhưng không dám mạnh dạn bước vào giữa hội chúng, Vị ấy chờ cho đến khi mọi người tỏ lòng tôn kính đến Đức Phật xong. Một khi hội chúng đã giải tán, vị ấy đến gần Đức Phật.
Vào lúc ấy, vua trời Sakka tự nghĩ, “Người bệnh phong hủi mong muốn làm cho biết sự thành tựu của anh ấy trong giáo pháp của Đức Phật. Tôi sẽ kiểm tra anh ấy”. Vì vậy, vua trời đến anh ấy, lơ lửng trên không, và nói anh ấy như vầy:
“Suppabuddha, bạn là người đàn ông đáng thương, một người đàn ông khổ sở với những điều bất hạnh. Tôi sẽ cho bạn sự giàu sang vô hạn nếu bạn nói,
“Buddho na buddho, “Phật không là Phật
dhammo na dhammo, Pháp không là Pháp
saṅgho na saṅgho, Tăng không là Tăng
alaṃ me buddhena, Tôi đã chán ngấy Phật
alaṃ me dhammena, Tôi đã chán ngấy Pháp
alaṃ me saṅghenā.” Tôi đã chán ngấy Tăng”.
Bạn nghĩ sao? Suppabuddha trả lời vua Sakka ra sao?
Người bệnh phong hủi nói với vua Sakka:
“Sakka đáng thương, bạn không xứng để nói với tôi, bạn nói rằng tôi là người đáng thương và khổ sở.”
Kế đến Suppabuddha ngâm kệ để đáp lại vua Sakka:
“Saddhādhanaṃ sīladhanaṃ,
paññā ve sattamaṃ dhanaṃ.”
“Yassa ete dhanā atthi, itthiyā purisassa vā; ‘Adaliddo’ti
taṃ āhu, amoghaṃ tassa jīvita’nti.
Tassimāni me satta ariyadhanāni santi. Yesañhi imāni
dhanāni santi, na tveva te buddhehi vā paccekabuddhehi
vā ‘daliddā’ti vuccantī.”
“Trái lại, tôi đã đạt được hạnh phúc và sự giàu sang lớn lao: bảy loại Thánh sản[14]. Những ai có nhiều sự giàu sang này không được gọi là đáng thương bởi Đức Phật hay Phật Độc giác”
Khi Sakka nghe vị ấy nói như vậy, Sakka đã đến Đức Phật, và cho Ngài biết về cuộc nói chuyện.
Đức Phật nói với Sakka rằng, “Sakka, điều đó không thể, dù với một trăm miếng vàng, dù với một ngàn, để thuyết phục người bệnh phong hủi Suppabuddha để nói “Phật không là Phật, Pháp không là Pháp, Tăng không là Tăng”. Vì Đức tin của vị ấy không thể lay chuyển.
Kế đến Suppabuddha đến Đức Phật, và Đức Phật đã tiếp nhận ông ấy. Và nói cho Đức Phật biết về sự thành tựu của ông ấy, ông ấy đứng dậy từ chỗ ngồi và rời tu viện.
Tại sao vua Sakka không thể thuyết phục Suppabuddha? Vì đức tin của một bậc Thánh rất mạnh. Đức tin của họ sẽ không bị lay chuyển ngay khi họ biết rõ Nibbāna. Từ một quan điểm phổ thông bên ngoài, nhiều người sẽ nói Suppabuddha là đáng thương. Tuy nhiên, Suppabuddha có bảy loại Thánh sản. Nó là sự giàu sang bên trong này thật sự làm cho vị ấy là một người giàu. Loại đức tin này được gọi là lòng tin chứng đạt (adhigama-saddhā).
Bây giờ tôi sẽ chia sẻ một câu chuyện khác với lòng tin chứng đạt (adhigama-saddhā) vì nhiều người quan tâm về những câu chuyện và nó cũng sẽ làm dễ hiểu. Câu chuyện kế là về Sūrambaṭṭha.
Câu Chuyện Về Chủ Hộ Sūrambaṭṭha
Sūrambaṭṭha[15] sanh vào một gia đình của người đàn ông giàu ở Sāvatthi, trong thời Đức Phật Gotama. Khi vị ấy đủ tuổi kết hôn, vị ấy kết hôn và trở thành một người ủng hộ thường xuyên của các vị tu khổ hạnh theo giáo pháp khác.
Vào một buổi sáng sớm, Đức Phật xem xét thế gian đến những cá nhân nào sẵn sàng để giác ngộ và thấy sự chín mùi quả phúc của Sūrambaṭṭha để đạt tới đạo Nhập lưu (Sotāpatti Magga). Đức Phật đã đi đến nhà của Sūrambaṭṭha để khất thực.
Sūrambaṭṭha tự nghĩ: “Samaṇa Gotama xuất thân từ một gia đình quí tộc và có tiếng tốt trong thế gian. Có thể điều này thật đáng cho tôi tiếp đãi Ngài ân cần”. Nghĩ như vậy, vị ấy đã đi đến Đức Phật, bày tỏ lòng tôn kính dưới chân Ngài, nhận bát của Ngài, và dẫn Ngài đến một cái ghế cao để dành cho những người cao quí. Sūrambaṭṭha dâng vật thực, phục vụ Đức Phật, và ngồi ở một nơi thích hợp.
Đức Phật đã giảng một bài pháp phù hợp với căn tánh của Sūrambaṭṭha. Vào cuối bài giảng, vị ấy trở thành bậc Nhập lưu (Sotāpanna). Sau khi giúp Sūrambaṭṭha đạt tới tuệ Nhập lưu, Đức Phật quay trở về tu viện.
Bây giờ, thiền sinh phải không quên về Māra. Bạn đang chiến đấu với Māra. Māra là những gì thường tác động, chi phối con người bằng năm dục. Nếu thiền sinh đi theo ý của Māra, điều này có nghĩa là họ sẽ thua cuộc chiến. Tất cả năm dục là vũ khí của vị ấy.
Māra[16] nghĩ: “Sūrambaṭṭha chủ hộ này thuộc về tín đồ của ta, vị ấy là một môn đồ của những người tu khổ hạnh ngoài giáo pháp của Đức Phật. Nhưng hôm nay Đức Phật đã thăm nhà của vị ấy. Tại sao? Sūrambaṭṭha có trở thành một bậc Thánh (Ariya) sau khi nghe bài thuyết giảng của Đức Phật hay chăng? Vị ấy có thoát khỏi phạm vi dục của ta hay chăng? Ta phải tìm hiểu”.
Rồi bằng sức mạnh phi thường. Māra đã tự ngụy trang như là Đức Phật đầy đủ ba mươi hai tướng của một bậc đại nhân. Māra cũng đã hoàn thành thủ vai này bằng vẽ ngoài tương tự y và bát của Đức Phật. Trong hình dạng đó, vị ấy đã đứng ở cửa của chủ hộ Sūrambaṭṭha.
Sūrambaṭṭha ngạc nhiên tại sao Đức Phật đi đến lần hai quá nhanh. Khi vị ấy cho biết bằng sự có mặt, vị ấy đáp lời, “Đức Phật không bao giờ đến mà không có vài lý do tốt”, và đến gần Đức Phật giả, tin rằng vị ấy là Đức Phật thật. Sau khi bày tỏ lòng tôn kính đến Phật giả, vị ấy đứng ở một nơi thích hợp, và hỏi:
“Thưa Thế tôn (Bhagavā), Thế tôn vừa rời khỏi nhà này sau khi dùng bửa ăn. Vì mục đích gì làm Thế Tôn đến lần nữa?”
“Yaṃ te mayā, sūrambaṭṭha, rūpaṃ aniccaṃ, vedanā aniccaṃ, saññā aniccaṃ, saṅkhāra aniccaṃ, viññāṇaṃ aniccanti kathitaṃ, taṃ anupadhāretvāva sahasā mayā evaṃ vuttaṃ. Tasmā tvaṃ rūpaṃ niccaṃ, vedanā niccaṃ, saññā niccaṃ, saṅkhāra niccaṃ, viññāṇaṃ niccanti gaṇhāhī.”
“Sūrambaṭṭha, Ta đã lơ là ban cho thời pháp sai đến ngươi. Ta đã nói rằng sắc, thọ, tưởng, danh hành và thức thì vô thường. Nhưng bây giờ ta nhớ rằng sắc, thọ, tưởng, danh hành và thức thì thường”.
Chủ hộ Sūrambaṭṭha, một bậc Nhập lưu, đã phật ý do lời phát biểu đó. Vị ấy cân nhắc như vầy: “đây là một lời tuyên bố báng bổ[17] đáng sợ nhất. Đức Phật sẽ không bao giờ lơ là ban cho một thời pháp sai. Họ nói rằng Māra là đối thủ của Đức Phật. Chắc chắn đây phải chính là Māra”.
“Ông là ai? Ông là Māra phải chăng?”
Māra bị sốc, choáng và run ví như bị đập bằng một cái rìu vì vị ấy bị đương đầu bởi một Thánh nhân. Sự trá hình của vị ấy đã lộ ra và vị ấy thú nhận:
“Vâng, Sūrambaṭṭha, tôi là Māra”.
Kế đến, Sūrambaṭṭha nghiêm nghị nói với Māra:
“Māra xấu xa; độc ác, tại sao ông nói như thế? Thậm chí một ngàn loại của ông sẽ không thể lay động lòng tin của tôi. Đức Phật Gotama, trong thời thuyết pháp của Ngài đã nói: ‘tất cả pháp bị trợ đều là vô thường’. Và bài thuyết giảng của Đức Phật đã dẫn tôi đến Đạo Nhập lưu (Sotāpatti–Magga). Ra khỏi đây!”
Theo cách này, bằng cách búng ngón tay, vị ấy đuổi Māra đi khỏi. Với sự quở trách từ một bậc Thánh như vậy, Māra không thể làm điều gì và tức khắc biến mất.
Vào buổi tối, Sūrambaṭṭha đi đến Đức Phật và thuật lại về việc đi đến của Māra, sự mưu hại của Māra để làm lay động lòng tin của Sūrambaṭṭha, và vị ấy đã xử lý Māra ra sao.
Đức tin của bậc Thánh không lay chuyển. Dù là Māra cố gắng lừa gạt chư Thánh, đức tin của chư Thánh không thể thay đổi hay rung động. Nhưng nếu Māra thuyết phục bạn, điều gì sẽ xảy ra? Bây giờ, bạn đang tu tập thiền siêng năng nhưng đôi khi mặc dù sau một thời gian dài, nó rất khó đạt đến định, thì Māra có thể đến thuyết phục bạn, “tại sao không hưởng dục?” Bạn sẽ chấp nhận lời mời của vị ấy hay chăng?
Có một ví dụ từ thiền sinh ở đây. Không lâu trước đây, khi vị ấy đi đến đây, vị ấy nói với tôi, “Bhante, tôi đã giải quyết tất cả những vấn đề trong gia đình tôi. Con gái của tôi đã tốt nghiệp và bây giờ có một việc làm. Vì vậy, tôi không cần lo lắng về cô ta. Vợ của tôi cũng đồng ý, cô ấy có thể ở nhà không có tôi. Vì vậy, bây giờ tôi có thể chuyên tâm vào việc tu tập thiền. Đó là lý do tại sao tôi muốn được thọ giới”.
Tôi nghĩ nếu vị ấy thọ giới, vị ấy có thể tu tập nhiều năm. Rồi tôi nói với vị ấy, “Được, nếu bạn có thứ lòng tin này, tôi sẽ giúp để bạn thọ giới”.
Chỉ sau một vài tháng trôi qua, vị ấy muốn xả y. Vị ấy nói, “Bhante, tôi cần đi về quê hương của tôi”.
Vị ấy cho tôi nhiều lý do. “tôi cần chăm sóc mẹ của tôi, tôi cần làm điều này, tôi cần làm điều kia”. Vị ấy có nhiều lý do. Thứ lòng tin này không phải là ‘lòng tin chứng đạt’ (adhigama-saddhā). Một lòng tin của người phàm dễ bị thay đổi.
Tiếp tục câu chuyện của Sūrambaṭṭha…
Vào một dịp, Đức Phật tuyên bố:
“Etadaggaṃ, bhikkhave, mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ paṭhamaṃ Aveccappasannānaṃ yadidaṃsūrambaṭṭho.”
“Này chư Bhikkhu, trong số các đệ tử cư sĩ của ta ai có lòng tin không lay chuyển trong giáo pháp của ta, Sūrambaṭṭha đứng đầu”.
Đó là câu chuyện về Sūrambaṭṭha. Bây giờ chúng tôi sẽ tiếp tục với loại lòng tin (saddhā) kế tiếp.
#phatgiaonguyenthuy
#phatgiao
#Kumarabhivamsa
#tinhtam
#theravada
Theo nguồn: https://theravada.vn/book/nhung-phan-thiet-yeu-de-tu-tap-thien-sayadaw-u-kumarabhivamsa/
Nguồn ảnh: Instagram Dhammanamo