La Parure ✓
Như trò đùa của số phận, nàng, người thiếu nữ kiều diễm nhất trong tất cả những người thiếu nữ kiều diễm, lại sinh ra trong một gia đình công chức bình thường. Bình thường đến mức nàng đã không có một món đồ hồi môn nào ra hồn ra vía, cũng không có hy vọng gì, không có cách nào để được gặp gỡ, quen biết, yêu và cưới một người đàn ông giàu có, sang trọng ; nàng đã chấp nhận cho bản thân mình kết hôn với một viên thư ký nhỏ bé làm việc ở Bộ Giáo Dục. Nàng sống lối sống đơn giản, vì nàng không thể làm gì hơn, nhưng nàng không cam tâm như thể nó không xứng với nàng ; bởi lẽ phụ nữ chẳng hề thuộc về bất cứ tầng lớp nào khi mà vẻ đẹp, sự duyên dáng và sự quyến rũ tự nhiên sẽ sẵn sàng che lấp đi xuất thân của họ. Sự tinh tế, thanh lịch và cả sự thông minh vốn dĩ đã là bản năng, kể cả nàng thiếu nữ con nhà bình dân và một quý phu nhân thượng lưu cũng chẳng có gì khác biệt.
Nàng buồn khổ vô tận, cảm thấy mình đáng ra phải được hưởng tất cả những thứ hào nhoáng và xa xỉ nhất của cuộc sống này từ khi sinh ra. Nàng chán ghét cái chốn ở nghèo nàn của mình khi nhìn vào những bức tường bẩn thỉu, những chiếc ghế mòn cũ kỹ và sự hèn mọn của gấm vóc trong căn nhà này . Tất cả những thứ đó, những thứ mà một người phụ nữ cùng giai cấp với nàng thậm chí còn không buồn để ý tới, đã ngấm ngầm hành hạ và khiến nàng phẫn nộ. Sự ân hận và hối tiếc về mộng ước viển vông lại càng trào dâng mãnh liệt trong nàng khi bắt gặp ánh nhìn từ cô gái giúp việc người Breton của mình. Nàng mơ ước về căn phòng cách âm được trang trí với những tấm thảm họa tiết phương Đông, được chiếu sáng bởi những bộ đèn bằng đồng treo trên cao, và với hai tên bồi mặc quần ngắn đến gối đang ngủ quên trên ghế bành, mơ màng trong sự ấm áp mà chiếc lò hơi sưởi mang lại. Nàng khát khao những căn phòng khách rộng lớn và lộng lẫy nhung lụa, nội thất trang nhã, các món đồ trang trí hoa lệ vô giá, và những căn phòng nhỏ hơn, dành cho các buổi chiều cùng tán gẫu với những người bạn thân thiết nhất - những quý ông nổi tiếng, được mọi người phụ nữ ghen tị và mong muốn được họ để mắt tới.
Vào buổi ăn tối, khi nàng ngồi xuống trước chiếc bàn tròn phủ khăn trải – cái khăn vừa mua ba ngày trước, đối diện chồng mình. Chàng nhấc cái nắp nồi súp ra và hào hứng kêu lên: « A, thịt bò hầm. Còn gì ngon hơn thế nữa ? » Nhưng nàng lúc này vẫn luôn mơ tưởng đến những bữa ăn tối sang trọng với muỗng nĩa bằng bạc sáng bóng, với các bức bích họa trên tường vẽ về một thời cổ xưa nào đó với những bầy chim bay trong rừng, những khu rừng chỉ có trong cổ tích. Nàng nghĩ đến những món ăn tinh tế, tuyệt vời, những lời thì thầm nhỏ nhẹ cùng nụ cười mang chất kịch đầy khó hiểu khi người ta ăn thịt cá hồi hoặc cánh chim cút. Nàng không có nước hoa, không có đồ trang sức, nàng chẳng có gì. Mặc dù cho nàng không chỉ thích, mà còn là cảm thấy bản thân được sinh ra để xứng với những thứ ấy. Nàng muốn bản thân xinh đẹp, muốn cuộc sống của mình được mọi người ganh tỵ và khát khao. Nàng có một người bạn, một người bạn học chung ở trường dòng thuở nhỏ mà nàng đã sớm không muốn qua lại, bởi vì sau mỗi lần gặp mặt thì nàng lại phải chịu đựng sự quý phái và giàu có của cô ta đến khi trở về nhà mà khóc trong sự buồn bã, tủi thân, tuyệt vọng và thê thảm trước cái gia cảnh của mình.
Một buổi tối nọ khi chồng nàng đi làm về, trông chàng có vẻ kiêu hãnh, với một cái phong bao trên tay, chàng nói : « Nhìn này, xem anh có cái gì cho em đây ! »
Nàng nhận lấy cái phong bao và xé nó ra để đọc những dòng chữ bên trong, Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và phu nhân Georges Ramponneau lấy làm hân hạnh đón tiếp sự đồng hành của ông bà Loisel đến buổi dạ hội ở Bộ, vào thứ hai ngày 18 tháng một.
Thế nhưng ngược lại với sự mừng vui của chồng, nàng lại ném tấm thiếp mời lên bàn một cách bực bội rồi lẩm bẩm: « Anh muốn tôi làm gì với nó đây ? »
« Nhưng, cưng à, anh cứ nghĩ là em sẽ hài lòng. Em chẳng bao giờ ra ngoài đi chơi cả nên đây rõ ràng là một cơ hội tốt đó chứ. Anh đã vất vả lắm mới có thể xoay ra tấm thiếp mời này đấy, không phải ai cũng muốn là có được đâu. » Chàng nói, « Lần này sẽ có rất nhiều quan chức ở buổi dạ hội đó ! »
Nàng giận dữ nhìn chồng, rõ ràng đã mất kiên nhẫn: « Và anh mong đợi tôi sẽ mặc gì nếu tôi đi với anh tới chốn đấy ? »
Chồng nàng đương nhiên là chẳng nghĩ tới điều đó, chàng trở nên bối rối: « Ừ thì... bộ váy... cái bộ váy mà em mặc đến nhà hát ấy, anh thấy nó cũng đẹp--- »
Rồi chàng im lặng, sững sờ, quẫn trí, khi nhìn thấy vợ mình đang khóc. Từ khóe mắt nàng, nước mắt lặng lẽ rơi xuống, buồn bã và thảm thương. Chàng lắp bắp: « Chuyện gì... có chuyện gì vậy ? »
Nhưng, nàng đã cố gắng, cố gắng nén nỗi tủi hờn và bình tĩnh lau đi gương mặt ướt đẫm vì nước mắt của mình, « Không có gì cả. Nhưng em không có nước hoa hay bất cứ cái gì khác cho phép em đến buổi dạ hội này. Anh nên nhường tấm thiếp cho người khác đi – đưa cho ai đó có một cô vợ đủ khả năng ăn mặc trang trọng hơn em. »
« Nào, Mathilde, » Chàng nói, cảm thấy tội nghiệp cho người vợ yêu dấu của mình, « Một lọ nước hoa tầm khoảng bao nhiêu tiền ? Cái mà em có thể dùng trong những dịp khác, đơn giản nhất có thể ấy ? »
Nàng suy nghĩ một hồi, tính toán các chi phí đồng thời cũng nghĩ xem mình có thể yêu cầu từ chồng một số tiền như thế nào mà chàng sẽ không thể từ chối. Cuối cùng, nàng trả lời, một cách ngập ngừng: « Em không biết chính xác là bao nhiêu, nhưng em nghĩ rằng nó cần khoảng bốn trăm franc."
Gương mặt của chàng hơi tái nhợt, vì bốn trăm franc, đó chính xác là số tiền mà chàng đã tiết kiệm để mua một khẩu súng cho việc đi săn vào mùa hè năm sau, ở gần Nanterre, với một vài người bạn cùng bắn súng vào Chủ nhật. Tuy nhiên, chàng vẫn nói : « Được, anh sẽ đưa em bốn trăm franc. Nhưng hãy nhớ lựa chọn bộ váy đầm nào đó đẹp chút đấy. »
Ngày diễn ra buổi dạ hội càng đến gần và Madame Loisel thì lại càng có vẻ buồn bã, bồn chồn, lo lắng hơn, kể cả khi nàng đã có váy dự tiệc. Một buổi tối chồng nàng hỏi nàng : « Có chuyện gì vậy? Ba ngày qua em trông kỳ quặc lắm. »
Nàng đáp : « Em buồn. Vì em chẳng có một món trang sức nào, cả một viên đá quý cũng không. Em sẽ biến mình thành một con mụ rẻ tiền ở bữa dạ hội mất, chắc em không đi đâu. »
« Thế hoa thì sao ? » Chàng nói, « Hoa đang là mốt mà, đúng chứ ? Chỉ mười franc thôi là em đã mua được hai hoặc ba bông hồng tuyệt đẹp rồi. »
« Không. » Nàng đương nhiên là không bị những lời này của chàng thuyết phục. « Chẳng có gì nhục nhã hơn là giữa một biển người giàu có quý phái thì mình lại là kẻ nghèo nàn và thảm thương nhất cả. »
Nhưng chồng nàng lại kêu lên. « Em tự dưng lại ngớ ngẩn thế ? Em có thể tìm Madame Forestier và hỏi mượn cô ấy một chút đồ trang sức mà. Cả hai thân nhau như vậy nên việc này có phải là khó quá đâu ? »
« Đúng rồi ! » Nàng gần như chảy nước mắt vì mừng rỡ, « Sao em lại chẳng nghĩ đến việc đó nhỉ ! »
Và thế là ngày hôm sau nàng đến nhà cô bạn thân của mình, và kể lể về nỗi khổ sở mà nàng đang gặp phải. Madame Forestier liền đi tới chỗ tủ quần áo rồi trở lại với một chiếc hộp lớn, cô mở hộp ra và nói với nàng : « Cứ chọn đi, cưng à. »
Đầu tiên nàng nhìn thấy những chiếc vòng đeo tay, sau đó là dây chuyền ngọc trai, rồi đến bộ thánh giá Venice bằng vàng đính đá quý – một tác chế kỳ công. Nàng đều thử chúng trước gương, có hơi ngập ngừng, rồi trả lại chúng với chút luyến tiếc, nhưng vẫn luôn miệng hỏi : « Chị có thứ nào khác không ? »
« Có. Nhưng chị không biết món nào sẽ thật sự vừa ý của em. »
Rồi đột nhiên nàng phát hiện ra một thứ. Một chuỗi hạt kim cương đẹp tuyệt vời nằm trong chiếc hộp satin đen, và trái tim nàng bắt đầu đập mạnh một cách tham lam chẳng thể kiểm soát. Khi cầm lấy nó, hai tay nàng không ngừng run rẩy. Nàng đeo chuỗi hạt lên cổ, bấy giờ nàng mặc bộ váy đầm cổ cao, và nàng ngất ngây trước vẻ đẹp của chính mình.
« Chị yêu dấu. » Nàng hỏi, nghe như van nài, « Em có thể mượn cái này không ? »
« Đương nhiên là được chứ ! »
Và với nỗi hạnh phúc tột cùng, nàng nhảy cẫng lên, ôm hôn cô bạn của mình rồi quay về nhà, với cái kho báu bé nhỏ mà nàng vừa có được trên tay.
Ngày dạ hội cũng đã đến. Và Madame Loisel như một đóa hoa rực rỡ, trở nên thành công ngoài mong đợi trong việc thu hút sự chú ý của tất cả mọi người. Nàng là người xinh đẹp, sang trọng, lộng lẫy, thanh lịch và hào hứng nhất trong bữa tiệc ngày hôm ấy. Những quý ông đều chú tâm đến nàng, hỏi tên của nàng, còn cố gắng giới thiệu bản thân mình với nàng nữa. Tất cả tùy viên của Nội các đều muốn nhảy một điệu với nàng, còn ngài Bộ trưởng thì cũng chẳng thể không nhớ đến gương mặt kiều diễm của nàng. Và nàng khiêu vũ, một cách điên cuồng, quên hết mọi thứ, say sưa trong nỗi sung sướng với cái chiến thắng đẹp đẽ mà nàng đạt được. Nàng chìm vào đám mây hạnh phúc được tạo dựng bởi niềm kính trọng, ngưỡng mộ, tất cả những khao khát trước giờ đã được thỏa mãn, và cảm giác thắng lợi này đối với trái tim của một người phụ nữ như nàng, thật ngọt ngào hơn bất kì thứ gì khác.
Khoảng bốn giờ sáng, nàng mới rời khỏi sảnh khiêu vũ. Chồng của nàng, lúc này đang ngồi ngủ gật ở một căn phòng khách nhỏ, bên cạnh ba quý ông khác cũng có chung cảnh ngộ với chàng. Chàng quàng qua vai vợ bộ áo khoác ngoài trời mà chàng đã mua cho nàng – thứ quần áo hợp túi tiền bình dân, sự giản dị và có phần nghèo khổ tương phản rõ rệt với lớp vải phi bóng của bộ đầm khiêu vũ nàng đang mặc. Nàng cảm nhận được điều này và chỉ muốn rời đi càng nhanh càng tốt, nếu không nàng sẽ bị những quý phu nhân mặc áo choàng lông đắt tiền để ý đến mất. Thế nhưng chồng nàng lại níu tay nàng lại : « Khoan đã, em đi ra lúc này sẽ bị nhiễm lạnh đấy. Chờ anh đi gọi xe đã. »
Nàng chẳng nghe chồng nói gì, mà lập tức chạy xuống cầu thang. Cho đến khi cả hai đã ra ngoài đường thì lại không tìm được taxi, dù có la hét khản cả cổ họng thì vẫn chẳng ích gì. Nàng và chồng đi bộ, hướng về phía sông Seine trong nỗi tuyệt vọng và không ngừng run rẩy vì lạnh. Cuối cùng, cả hai cũng bắt được xe, một chiếc taxi đêm cũ kỹ đậu bên bờ kênh, đó là loại taxi chỉ thấy được ở Paris trong buổi đêm, như thể chính bản thân nó cũng xấu hổ nếu phải xuất hiện và phô vẻ ngoài của mình vào ban ngày ban mặt.
Rời khỏi xe trước cửa căn hộ nhỏ trên đường Martyrs, hai vợ chồng nàng buồn bã bước lên bậc thang dẫn về phòng mình. Đối với nàng, mọi điều vui vẻ đã kết thúc, còn chàng thì vẫn nghĩ đến việc mình phải có mặt ở Bộ vào lúc mười giờ.
Nàng cởi bỏ bộ áo choàng rẻ tiền, đứng trước gương với hy vọng được trông thấy vẻ lộng lẫy của bản thân mình lần nữa. Rồi đột nhiên nàng hét toáng lên.
Chồng nàng, lúc này vẫn đang thay quần áo, hỏi : « Lại gì nữa vậy ? »
« Chuỗi hạt... chuỗi hạt... » Nàng lắp bắp, « Chuỗi hạt kim cương của Madame Forestier... nó không còn ở trên cổ em nữa ! »
Chàng giật nảy mình, trông như phát điên : « Cái gì !? Làm sao có thể... ? »
Cả hai bắt đầu lục tung mọi thứ lên, từng lớp váy đầm của nàng, từng lớp áo choàng và kể cả trong từng lớp túi, nhưng rốt cuộc cũng không tìm thấy được gì. Chàng hỏi : « Em có chắc là em vẫn còn đeo nó khi em rời khỏi buổi khiêu vũ không ? »
« Còn chứ, em còn chạm được vào nó kia mà ! »
« Nhưng nếu em làm rơi sợi dây ngoài đường thì chúng ta hẳn đã phải nghe thấy tiếng va chạm rồi. Có thể là trên xe taxi chăng ? »
« Đúng rồi, có thể lắm. Anh có số điện thoại của tài xế chứ ? »
« Không. Còn em thì sao, em cũng không nghía qua số điện thoại à ? »
« Không. »
Cả hai đưa mắt nhìn nhau, ngây ra như phỗng. Và sau đó Loisel lại khoác áo choàng lên, « Anh sẽ đi ra ngoài, » Chàng nói, « Tìm lần nữa trên khắp các nẻo đường từ nhà ta đến buổi khiêu vũ đó, biết đâu anh sẽ tìm lại được sợi dây chuyền cho em. »
Và chàng rời đi. Còn nàng thì ngồi lại trong căn buồng của mình, bộ váy đầm dạ hội vẫn còn mặc trên người, như bị hút hết hồn phách, chẳng còn thể nghĩ ngợi điều chi nữa.
Bảy giờ, chồng của nàng quay về. Với hai bàn tay trắng.
Chàng lại báo cho đồn cảnh sát, đăng tìm kiếm lên báo với lời hứa hậu tạ, hỏi han ở các công ty dịch vụ taxi, bất cứ nơi nào chàng cũng đều bật lên cái hy vọng nhỏ nhoi về việc sẽ tìm lại được chuỗi hạt đó. Còn nàng thì luôn luôn ở nhà và chờ đợi, vẫn cái dáng vẻ mất đi thần trí sau cái thảm họa kinh hoàng.
Trở về nhà vào buổi chiều muộn ngày hôm ấy, Loisel mệt mỏi, xanh xao và y nguyên như cũ, chẳng tìm thấy được gì.
« Em đó, » Chàng nói, « Viết cho bạn em một lá thư đi. Nói là em đã vô tình làm mẻ một góc của sợi dây chuyền và cần có thời gian để cho người sửa chữa nó lại. »
Nàng đã viết cho bạn mình, theo đúng như những gì chàng bảo.
Cho đến một tuần sau đó, niềm hy vọng của cả hai dần cạn kiệt. Và Loisel, trông như già đi năm năm so với tuổi của chàng, đã tuyên bố rằng họ phải tìm cách mua lại chuỗi hạt khác để thay thế.
Hai vợ chồng đến cửa hiệu kim hoàn nơi được khắc tên bên trong chiếc hộp. Nhưng người chủ lắc đầu : « Thưa ông bà, đây không phải là chuỗi hạt của hiệu chúng tôi. Chúng tôi chưa bao giờ khắc tên cửa hiệu trong hộp cả. »
Họ lại rời đi, đến hỏi khắp các hiệu kim hoàn khác, dựa vào trí nhớ của mình mà tìm kiếm một chuỗi hạt kim cương giống như vậy, sự buồn bã và đau khổ dần dần bao trùm hai vợ chồng nàng. Cho tới khi cả hai tìm được một món trang sức giống hệt cái mà nàng đã làm mất ở cửa hiệu nọ, nhưng lại là một cửa hiệu ở Palais Royal. Nó trị giá bốn ngàn francs và người ta sẽ giảm giá cho họ còn ba ngàn sáu.
Hai vợ chồng nàng thuyết phục người ta giữ chuỗi ngọc đó lại trong vòng ba ngày, đủ để cả hai có thể xoay ra được tiền. Và họ cũng thoả thuận rằng hắn sẽ có lại nó với giá ba mươi bốn ngàn franc nếu họ tìm thấy được chiếc vòng cổ kia trước cuối tháng hai.
Loisel thừa kế từ cha mình mười tám ngàn francs, và chàng sẽ đi vay cho đủ số tiền. Chàng mượn một ngàn francs từ người này, năm trăm francs từ người nọ, chạy vạy tứ phương tám hướng. Chàng ký tất cả giấy tờ, tất cả các cam kết với mọi loại mượn nợ mà chàng tìm được. Chàng đã như bán cả cuộc đời còn lại của mình khi mạo hiểm ký vào những thỏa thuận mà chẳng cần quan tâm về nội dung, kéo theo những nỗi kinh hoàng trước cái viễn cảnh mà chàng sắp phải chịu đựng. Rốt cuộc chàng cũng đã nhận được chuỗi hạt kim cương ấy sau khi đặt lên quầy của tiệm kim hoàn ba mươi sáu ngàn francs.
Khi vợ chàng mang món trang sức hoàn trả cho Madame Forestier, nàng nhận được một lời trách móc lạnh lùng từ bạn mình : « Em nên đưa nó lại cho chị sớm hơn, cưng à. Lỡ đâu chị cần nó thì sao ? » Và bà đã không làm hành động mà nàng sợ nhất – mở cái hộp đó ra. Nếu như chị ấy nhận thấy sự khác biệt thì sao ? Chị ấy sẽ nghĩ gì, sẽ nói gì về mình ? Chị ấy có xem mình là phường trộm cướp hay không đây ?
Kể từ đó, Madame Loisel đã nếm được mùi vị của cái gọi là gia cảnh nghèo khổ. Nhưng nàng đã không hề cúi đầu hay bỏ cuộc, bởi món nợ lớn vẫn còn đó và nàng phải giúp chồng trả cho bằng hết. Họ cho cô hầu gái thôi việc, thay đổi chỗ ở đến một căn gác xép nhỏ. Nàng đã hiểu được sự vất vả khi phải làm hàng đống việc nhà và ngâm đôi tay hồng hào trắng trẻo của mình trong hàng tá mớ chén dĩa trơn nhẫy dầu mỡ. Nàng giặt áo quần, khăn màn bẩn rồi phơi lên dây, nàng tự mình mang từng túi rác xuống đường vào mỗi sáng, tự mình xách từng xô nước nặng tới mức nàng thi thoảng phải dừng lại để lấy chút hơi thở. Và khi xuống phố, nàng ăn mặc tềnh toàng, đeo trên tay cái giỏ đi chợ và trả giá từng xu từng cắc một chỉ để đổi lấy những món đồ thảm hại theo giá rẻ nhất có thể.
Mỗi tháng trôi qua, hai vợ chồng nàng đều phải trả thêm những món nợ, từng chút một. Chồng nàng mỗi tối đều giúp làm giấy tờ cho thương nhân, và thường thì chàng còn cày đến đêm khuya để ngồi sao chép bản thảo với cái giá năm xu một trang.
Cái cuộc sống vất vả như thế đã kéo dài mười năm.
Mười năm trôi qua, họ rốt cuộc đã trả hết mọi thứ, tất cả mọi thứ, kể cả tiền lời, lãi mẹ lãi con, đều không còn nợ nần gì nữa. Madame Loisel lúc bấy giờ trông đã già đi rất nhiều, và trở thành một người đàn bà thô kệch, mộc mạc như tất cả những người đàn bà trong các gia đình hạ lưu khác. Mái tóc nàng luôn rối, áo váy xộc xệch và đôi tay ửng đỏ, nàng đã quen cái thói nói chuyện lớn tiếng trong lúc đang chà rửa sàn nhà. Nhưng đôi khi, lúc chồng nàng đi làm, nàng lại đến ngồi bên cửa sổ và nhớ về cái đêm dạ hội nhiều năm về trước – khi nàng vẫn còn lộng lẫy và đáng yêu biết chừng nào. Chuyện sẽ ra sao nếu như nàng chưa từng làm mất chuỗi hạt đó ? Ai biết chứ, thật mỉa mai làm sao ! Chẳng ai ngờ rằng cuộc đời của một người sẽ dễ dàng bị phá hủy hay được cứu vớt bởi những điều nhỏ nhặt như thế cả.
Một ngày chủ nhật nọ, khi nàng đang đi dọc theo đại lộ Champs Élysées để thư giãn sau một tuần làm việc cực nhọc, bỗng dưng lọt vào tầm mắt nàng là một người phụ nữ đang cùng con mình đi dạo. Trông người đó thật quen làm sao, đó chính là Madame Forestier – vẫn trông còn trẻ và còn xinh đẹp biết bao.
Nàng cảm thấy xúc động. Có nên nói chuyện với bà ấy hay không ? Đương nhiên rồi, vì hiện giờ nợ nần gì nàng đều đã trả hết, nàng còn sợ hãi gì mà không nói thật với bạn mình nữa đây ? Nghĩ là làm, nàng bước đến gần Madame Forestier, nói : « Jeanne, chào buổi sáng. »
Bạn của nàng, lúc này vẫn ngạc nhiên vì không nhận ra người phụ nữ thô kệch trước mặt mình là ai, « Nhưng--- thưa bà, chắc là bà đã lầm tôi với ai. »
« Không đâu chị ơi, em là Mathilde Loisel đây. »
Nàng vừa dứt lời, Madame Forestier đã suýt bật khóc : « Ôi trời ơi, Mathilde tội nghiệp, sao em lại thay đổi nhiều đến mức này ! »
« Vâng, từ lần cuối ta gặp nhau thì bao nhiêu năm qua đối với em chẳng dễ dàng gì. Tất cả cũng vì chị. »
« Chị ư ? Làm sao lại có thể như thế ? »
« Chị có nhớ không, cái chuỗi hạt kim cương mà chị cho em mượn để đến buổi dạ hội ấy ? »
« Có, chị nhớ. »
« Em đã đánh mất nó rồi. »
« Em nói gì vậy, em đã trả nó cho chị cơ mà ? »
« Thực ra đó là một chuỗi hạt trông giống nó thôi. Và vợ chồng em đã phải dùng mười năm để trả cho số tiền mua nó. Đương nhiên là rất cực khổ vì gia tài chúng em không có nhiều nhặn gì. Nhưng rốt cuộc thì nợ đã trả xong rồi, nên em cảm thấy rất thoải mái. »
Madame Forestier trông như người bị hóa đá, « Em bảo rằng em đã mua chuỗi hạt mới để thay thế cái bị mất sao ? »
« Vâng, chị chẳng để ý à ? Chúng giống nhau đến thế cơ mà. » Nàng mỉm cười, một nụ cười có phần tự hào và ngây thơ. Và Madame Forestier, chợt cầm lấy hai bàn tay nàng, « Ôi chao, Mathilde đáng thương của tôi ơi ! Chuỗi hạt của chị chỉ là đồ giả mà thôi, nó có giá năm trăm francs là quá lắm rồi !... »
- HẾT -










