Luat giao dich dien tu quy dinh ra sao ve hop dong dien tu
Hợp đồng điện tử là xu hướng chuyển đổi số mà các tập đoàn, công ty đang hướng đến khi hợp đồng truyền thống ngày càng bộc lộ những điểm yếu chết người, nhất là trong đại dịch covid 19. Vậy hợp đồng điện tử được quy định như thế nào theo luật giao dịch điện tử 2005? Hãy cùng xem trong bài viết dưới đây.
1. Luật giao dịch điện tử là gì?
Luật giao dịch điện tử là bộ luật được nhà nước Việt Nam xây dựng để có thể hướng dẫn các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng, tài liệu điện tử; đồng thời đưa ra những quy định để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng điện tử.
Việc xây dựng Luật Giao dịch điện tử được thực hiện trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây :
1. Luật phải thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để tận dụng các cơ hội mà công nghệ thông tin đưa lại nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và quản lý, điều hành đất nước; coi ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình cải cách hành chính và hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo an ninh, quốc phòng, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc.
2. Luật phải tạo được khung pháp lý cần thiết để điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ giao dịch điện tử, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân; đảm bảo sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử.
3. Luật phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các đạo luật có liên quan đã ban hành của nước ta; đồng thời đảm bảo sự tương thích với luật pháp, thông lệ quốc tế về giao dịch điện tử.
2. Luật giao dịch điện tử mới nhất có những quy định gì?
Quy định về thông điệp dữ liệu:
- Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác.
- Tinh thần xuyên suốt của chương này là pháp luật công nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu. Chương này có 2 mục: Mục 1 quy định về hình thức thể hiện thông điệp dữ liệu; giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản; thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc; thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ; lưu trữ thông điệp dữ liệu. Mục 2 gồm quy định về người khởi tạo thông điệp dữ liệu; thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu; nhận thông điệp dữ liệu; thời điểm, địa điểm nhận thông điệp dữ liệu; gửi, nhận tự động thông điệp dữ liệu.
- Trong trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết.
Quy định về hợp đồng điện tử
- Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của luật này. Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Như vậy, theo quy định pháp luật, hợp đồng điện tử được ghi nhận tính pháp lý và được sử dụng làm chứng cứ trong trường hợp một trong hai bên không thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm điều khoản của hợp đồng khi hợp đồng điện tử đảm bảo được các điều kiện dưới đây:
- Nội dung của hợp đồng điện tử bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng thông điệp hoàn chỉnh (thông điệp chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu).
- Nội dung của thông điệp dữ liệu trong hợp đồng điện tử có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết (thông điệp dữ liệu có thể mở được, đọc được, xem được bằng phương pháp mã hoá hợp pháp đảm bảo độ tin cậy mà các bên thoả thuận với nhau).
Bài viết về luật trên được tham khảo từ: https://amis.misa.vn/














