okay so, một vài suy nghĩ của mình sau khi đọc xong Mẫu thượng ngàn của cụ Nguyễn Xuân Khánh.
Độ dài của Mẫu thượng ngàn, so với Đội gạo lên chùa thì cũng tương đương (khoảng 700 - 800 trang). Tuy nhiên, Đội gạo lên chùa tương đối dễ đọc hơn nhờ cấu trúc ba phần khá mạch lạc và dòng thời gian linear. Cụ thể, Đội gạo lên chùa được chia làm 3 phần (Trôi sông, Bão nổi can qua, Về cõi nhân gian), mỗi phần khắc họa một giai đoạn lịch sử tách biệt, qua đó (có vẻ) tư tưởng cũng được truyền đạt rõ ràng. Mẫu thượng ngàn non-linear hơn, bắt đầu bằng cảnh Trịnh Huyền đưa cô con gái Nhụ về làng Cổ Đình, chêm xen vô vàn câu chuyện quá khứ, từ chuyện bà tổ cô Vũ Thị Ngát sống trong thời cấm đạo Thiên Chúa, chuyện Tây mắt mèo Philippe đánh chiếm thành Hà Nội, rồi thì lịch sử, cuộc đời của vô vàn những con người... Đọc Mẫu thượng ngàn, thỉnh thoảng mình bị khựng lại vì không biết nhân vật đang được nhắc đến ở thời điểm nào, họ bao nhiêu tuổi, đang trải qua những gì. Nhìn chung, về mặt structure, mình thấy với Đội gạo lên chùa tác giả làm tốt hơn.
Vẫn là Nguyễn Xuân Khánh với lối viết tỉ mẩn, siêu siêu chi tiết (tiểu thuyết lịch sử của cụ luôn dài và nặng trịch là vì vậy). Từ Mẫu thượng ngàn đến Đội gạo lên chùa, mình cảm thấy các tác phẩm của cụ không quá đột phá về mặt cốt truyện hay nhân vật, nhưng lại giá trị ở những miêu tả về những tục lệ, lễ hội, hay phong cảnh xưa. Trong Mẫu thượng ngàn, những chương, những đoạn như vậy rất nhiều, mình chỉ liệt kê ra ở đây một số và không thể hết được: đám ma đồng chiêm của vợ ông trưởng Kiên (tức mẹ vợ Trịnh Huyền), cuộc hành quyết những giáo dân trong cuộc phân sáp, đoạn ông Trịnh Huyền và cu Điều đi bắt con chim cu cườm, đoạn đám tang bà cả của lý Cỏn, đoạn bà Mùi hầu đồng... Cần phải nói thêm, tác giả sinh năm 1933, nghĩa là không sống trong giai đoạn bối cảnh của cuốn sách này, những gì cụ viết đều là tìm về một thời quá vãng. Càng thêm trân trọng những nỗ lực của cụ trong việc tìm tòi, khắc họa, kiến giải lịch sử, những điều mà các cây viết trẻ viết truyện lịch sử thời nay chưa thể có được.
Lướt review trên Goodreads thấy có người bảo cuốn này mê tín. Quan điểm này thiển cận là rõ nên chắc là không cần phản bác, mình chỉ muốn nói một vài suy nghĩ như này. Mặc dù, đúng là cuốn sách có những tình tiết phi lý về mặt khoa học, như việc ông hộ Hiếu - thầy phù thủy của làng - chữa khỏi bệnh cho Pierre Messmer bằng lá bùa, việc nhà họ Vũ vứt tượng thần xuống sông rồi bị quả báo, Mẫu hiện lên ngăn không cho Nhụ tự vẫn... Nhưng, thứ nhất, Nguyễn Xuân Khánh không cổ súy cho những tập tục, thực hành đó, chỉ coi nó là một phần của không gian, tín ngưỡng tâm linh trong truyện (đây cũng là một điểm mà mình rất thích ở cụ Khánh sau khi đọc 2 tiểu thuyết cùng liên quan đến tâm linh, tôn giáo của cụ, cụ đã viết về đạo Phật, đạo Mẫu với một cái nhìn đầy trân trọng, đặt chúng vào trong chiều dài lịch sử đất nước để kiến giải). Thứ hai, phải đặt những yếu tố tâm linh vào bên trong không gian văn học, không gian lịch sử, để hiểu rằng điều tác giả đang cố gắng làm không phải là phổ biến, cổ súy, mà là kiến giải: kiến giải vì sao các nhân vật, hay vì sao người Việt cần đến thứ tâm linh ấy, trong bối cảnh ấy, thời đại ấy. Thứ ba, nếu nhìn rộng ra, văn học thế giới không thiếu những tác phẩm sử dụng yếu tố hoang đường làm công cụ kể chuyện, ví như Trăm năm cô đơn của cụ Marquez, Yêu dấu của cụ Toni Morrison, hay hằng hà sa số các tác phẩm của Haruki Murakami... Đọc sách hư cấu khác với đọc sách phi hư cấu ở chỗ, ta không tìm kiếm sự thật trên bề mặt câu chữ được viết, ta tìm sự thật đằng sau nhân vật, sau bối cảnh, sau những biểu tượng.
Nhân vật và bối cảnh trong Mẫu thượng ngàn tương đối mang tính đại diện, khái quát. Làng Cổ Đình không chỉ là một ngôi làng cụ thể, nó là đại diện cho tất cả những làng quê Bắc Bộ với những sự biến chuyển trong giai đoạn giao thời cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20. Ở ngôi làng ấy, có đầy đủ các tầng lớp xã hội, thể hiện qua các nhân vật cụ thể: từ lý Cỏn, hương Ất, quản Boong, cụ tú Cao, cụ đồ Tiết, ông hộ Hiếu, thím mõ Pháo, đến cha xứ Colombert, chủ đồn điền Messmer, rồi những thanh niên trí thức tây học như Tuấn, Huy, Xuân... Ở ngôi làng ấy, đạo Phật đã lụi tàn (thể hiện qua hình ảnh ngôi chùa đổ), đạo Thiên Chúa mới du nhập nhưng chưa thể phổ biến rộng rãi, đạo Mẫu sống lại như một chốn nương thân cho những người dân quê trong thời buổi nhiễu nhương, biến loạn. Bi kịch riêng tư của nhân vật cũng là bi kịch chung của thời cuộc, của dân tộc; trăn trở riêng tư của nhân vật cũng là trăn trở chung của một dân tộc đang đứng giữa ngã ba đường, giữa cái cũ và cái mới, cái bản địa và cái ngoại lai, Đông phương và Tây phương.
Cuốn này với mình hơi "phồn thực" (nói một cách literal hơn là hơi nhiều cảnh sex). Rất nhiều tình tiết đề cập trực tiếp lẫn gián tiếp đến thứ bản năng/tín ngưỡng dân gian này, từ mùa trải ổ của thanh niên làng Cổ Đình, sự tích ông Đùng bà Đà, đến rất nhiều cảnh giường chiếu giữa các nhân vật khác nhau. Đặc biệt, những nhân vật là đàn bà, con gái dường như đều có một đặc điểm chung là libido cao, bản năng làm tình mạnh (chắc chỉ có nhân vật Hoa con mõ Pháo là không được mô tả với đặc điểm này?). Tác giả từng trả lời phỏng vấn, "Mẫu thượng ngàn thì nói về Mẫu, cũng có nghĩa là nói đến đàn bà, nói đến nhục cảm." Cá nhân mình hiểu được ý đồ của tác giả, hiểu được chiều sâu văn hóa mà cụ muốn truyền tải, nhưng lại không thích Mẫu thượng ngàn cho lắm ở điểm này. Maybe just personal opinion, because I'm asexual. Nhưng mình nghĩ, viết về tín ngưỡng thờ "mẹ" hay "đàn bà" không nhất thiết đồng nghĩa với viết về nhục cảm, right? Nếu mình không nhầm, trong tín ngưỡng đạo Mẫu cũng thờ cả những nhân vật không làm mẹ (as in đã từng sinh con) như Cô Đôi Thượng Ngàn hay các Cô Bé... Tức là, đạo Mẫu không chỉ xoay quanh hình ảnh người đàn bà gợi cảm mà còn bao hàm cả những trinh nữ linh thiêng, những cô bé đồng trinh đại diện cho sự trong sạch và thiêng liêng. Việc nhấn mạnh nhục cảm như một thuộc tính phổ quát của nữ giới có thể khiến hình tượng Mẫu bị đơn giản hóa. Nhất là, trong thời hiện đại ngày nay, khi những định nghĩa về "giới", về "giới nữ" hay về "mẹ" đang ngày càng được mở rộng, thiết nghĩ chúng ta cần một cách nhìn rộng hơn, bao quát hơn. Nếu phải tìm ra một điểm nào để chê trong Mẫu thượng ngàn, với mình là điểm này.
Cái kết của truyện, nếu nhìn nhận nó như một cái kết mang tính biểu tượng thì sẽ thấy không quá buồn, bi kịch hay phi lý. Julien hãm hiếp Nhụ cũng giống như thực dân Pháp đến xâm lược, đô hộ Việt Nam, cố gắng truyền bá văn hóa, chữ viết, tôn giáo vào Việt Nam. Nhưng rồi đứa con sinh ra, như lời Nhụ nói, vẫn là "con của Mẫu", vẫn lớn lên trong vòng tay và sự che chở của Mẫu, của người mẹ (Nhụ) và người bà (Mùi). Mình hiểu như này: dù cho dân tộc có chịu ảnh hưởng của thực dân, thì dòng chảy cội nguồn, tâm linh, tín ngưỡng dân gian vẫn còn mãi. Chủ đề này đã được thể hiện xuyên suốt tác phẩm, explicitly qua rất nhiều đoạn đối thoại giữa các nhân vật cả ta lẫn tây và implicitly qua vô số tình tiết, nên mình nghĩ việc kết lại câu chuyện bằng cách nhấn mạnh chủ đề như tác giả đã làm cũng hợp lí thôi.














