Tôi thuộc tuýp người an phận, thỉnh thoảng hơi bực bội xung quanh một chút nhưng rồi lại thôi, ví dụ như đường Sài Gòn cướp giật nhiều thì tôi sẽ ít ra đường một chút, công việc khó tìm hơn thì tôi sẽ giỏi hơn chút nữa, xếp hàng có người chen lên trước thì tôi bị trễ chút cũng không chết ai, rồi cá chết xếp lớp dài, tôi ngưng ăn cá, rồi rau phun chất độc tôi tự trồng rau ăn, trà xanh không độ có ruồi, C2 có chì, tôi sẽ chuyển qua uống nước lọc, chà, coi bộ người an phận như tôi cuối cùng sẽ không còn có không khí mà thở nhỉ? Vì không khí cũng đang nhiễm thủy ngân mất rồi.
Những sự kiện gần đây, tôi nhìn nhiều hơn ở khía cạnh tích cực, xem là một hệ quả tất yếu phải xảy ra cho một xã hội Việt Nam như hiện tại, vì nó đánh động được nhiều người, những người sống đời lặng lẽ, những người không màn chính trị, trong đó có tôi và cả bạn tôi nữa, nhỏ bạn tôi sống trong xó xỉnh chục năm rồi không trồi đầu ló dạng, tốt nghiệp 7 năm không đi làm, không đọc báo, không có smartphone, bỗng một buổi chiều đẹp trời thấy nó share mấy tin biểu tình, cá chết trên cái facebook mốc meo tỷ năm không xài của nó, tôi tưởng facebook nó bị hack, rồi gọi điện hỏi, chả thấy trả lời gì, chỉ cười phá lên, cười như hai con điên ở hai đầu Nam Bắc, rồi, xong rồi, đụng đến biển của mày, nên đã đến thời của mày rồi ha.
Có "ai đó" đã bị đụng gì đến bạn chưa? Hay là bạn không có gì để yêu thương cả, nên dù xung quanh có diệt vọng bạn cũng không chú tâm lắm?
Chúng tôi lớn lên được nuôi sống bằng những thứ thuần tự nhiên, cá ngoài biển mới vớt lên còn dãy dụa, mực còn đổi màu bảy sắc nhìn hoài không thấy ngán, rau trong vườn mới hái, lúa trồng ngoài đồng, nước mắm tự làm, dầu ăn được ép từ đậu phộng, chưa bao giờ nghĩ đến một lúc nào đó bước ra chợ, nhìn cá mà e dè không dám mua, tô nước cải xanh luộc chấm nước mắm ớt tỏi giã nhuyễn không dám chan, rau muống ăn sống cuốn chung với cá nục luộc lâu rồi bỏ quên, quanh quẩn rồi không biết ăn gì uống gì.
Mọi thứ xung quanh thay đổi, tứ phía bao vây bởi chất độc, dối trá và lợi ích, chỉ biết im lặng nghe, nhìn những điều tai nghe mắt thấy, nước mắt sống rớt xuống, một phần của mình biến mất, ký ức đẹp một thời bị một nhóm người lợi ích nào đó lấy đi, một cách trơ tráo và khốn nạn.
Tự cho rằng mình không có chuyên môn, không đủ trình độ, hay cảm thấy tiếng nói của mình không có, nên cứ lặng im nhìn như vậy, hay rồi cũng nghĩ chuyện vĩ mô có người vĩ mô làm, chuyện lớn có người lớn nghe, chuyện của mình chắc không phải vậy.
Nghe hèn dễ sợ ha, hèn quá, nói gì đó thôi, hành động điều gì đó thôi. Rồi kể cho nhau nghe, viết cho nhau đọc, để lan tỏa chúng đi, để đánh động tâm can bao người còn im lìm trong một xó xỉnh nào đó của đất nước này.
"Biển quê hương còn một dải
Nay dàn khoan, mai ống thải.
Mai sau con cháu hỏi
Cha ông đã làm chi với biển nước mình?
Phải rồi,
Chúng ta đâu có làm gì
Chỉ làm thinh."
-- Nguyễn Thiên Ngân
Cuộc sống này tồn tại những thứ đối lập, chúng ta hoàn toàn có thể nhận ra điều đó mà không cần phải đợi đến khi đủ khôn lớn: vui – buồn, sướng – khổ, yêu thương – oán hận, chiến tranh – hòa bình... Những mặt đối lập của cuộc sống cứ tồn tại song song với nhau để nhờ điều này mà ta nhớ đến điều kia. Những cơn buồn gợi nhắc những ngày vui, khi đau khổ chúng ta mang trong mình khát khao được hạnh phúc. Cứ như thế cuộc sống xoay vần trong cả sự sung khắc lẫn giao hoà của những mặt đối lập. Tuy rằng chúng ta thấy rõ cái tốt và xấu trong từng cặp đối lập nhưng bạn hãy thừa nhận một điều rằng không có một thứ nào giữa chúng là không đáng tồn tại. Bạn cần nỗi buồn để nhìn sâu vào tâm hồn mình, cần niềm vui để tạo năng lượng sống, nỗi khổ là để tôi luyện con người và được tưởng thưởng bằng sự sung sướng…
Nhìn vào xã hội Việt Nam mà chúng ta đang sống hôm nay sau từng ấy năm hòa bình được lặp lại hay nói chính xác hơn là chiến tranh đã chấm dứt. Vì sao tôi phải nói như vậy? Là vì để chúng ta có một cái nhìn sâu xa hơn về thứ hòa bình mà chúng ta đang thụ hưởng ngày hôm nay. Có phải đơn giản là kết thúc chiến tranh thì sẽ có được hòa bình hay không? Tư duy một chiều là thứ đã khiến con người Việt Nam bao nhiêu năm qua đặc biệt là những thế hệ sau này ngày một mất đi sự sâu sắc trong lối sống, suy nghĩ nông cạn, đánh rơi dần cảm xúc và thờ ơ hơn với cộng đồng. Con người tìm kiếm niềm vui trong những thú chơi vô bổ, ước ao được sung sướng bản thân mà không phải lao nhọc vô tình mở ra cánh cửa dẫn đến tội ác.
Và trong những ngày qua, một sự bất ổn không đáng có diễn ra trên đất nước chúng ta là hậu quả của việc nhà cầm quyền buộc người dân phải tin vào một thứ bình yên giả tạo từ đó lãng quên đi việc đấu tranh để đẩy lùi bất công. Mỗi chúng ta khi lớn khôn đã được dạy rằng sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là một trong những quy luật của sự phát triển, là một bước để đẩy lùi cái lạc hậu ra khỏi xã hội. Như vậy, việc dập tắt tiếng nói phản kháng và ngăn cản đấu tranh phải chăng là một việc gián tiếp làm kiềm hãm sự phát triển. Đến đây chúng ta hẳn đã có thể trả lời đâu là nguyên nhân khiến Việt Nam là đất nước không chịu phát triển trong nhiều năm qua hầu như về mọi lĩnh vực.
Trở lại với hòa bình, hãy đặt ra một câu hỏi. Người ta giống với cái gì khi chấp nhận sống yên ổn mà không cần đến sự tiến bộ? Đó có phải là cách sống của con người, giống loài được Thượng đế ưu ái cho làm chủ trái đất hay không? Con người hơn loài vật là ở suy nghĩ và có linh hồn vì nếu chỉ xét về thể chất, chúng ta là một giống loài yếu đuối. Chỉ có hiểu biết mới làm người ta tiến bộ, nhưng bạn có công nhận rằng trong hành trình khôn lớn của con người, rõ ràng nhất là ở giữa xã hội Việt Nam, càng hiểu biết nhiều bao nhiêu, càng đau khổ bấy nhiêu. Và như vậy vì người ta sợ đau khổ, sợ biết nhiều thì nặng đầu, nặng lòng và nặng nhiều thứ khác nên không muốn hiểu biết vô hình trung khước từ sự tiến bộ. Và vì chỉ nghĩ cho bản thân nên người ta cho rằng như thế là khôn ngoan. Hòa bình mà vẫn không thể phát triển, phải chăng là vì chúng ta quá ngu dốt. Người Việt Nam đang hạnh phúc với sự ngu dốt để mong cho thân xác được no lành.
Tư duy ấy, cái tư duy rất chi hẹp hòi ấy đang khiến chúng ta, những kẻ sống với hình hài của một con người lại lãng quên đi tầm vóc của một giống loài được gọi là con người, vứt bỏ đi món quà mà tạo hóa đã ưu ái ban tặng. Chúng ta đang tự hạ thấp mình mà cứ mãi nghĩ rằng đó là đang sống cho bản thân mình, là tự yêu thương lấy mình, góp vào đó là sự ru ngủ của chính quyền về một thứ hòa bình đen tối, một sự phát triển đầy phù phiếm, hư ảo. Ngăn tủ lạnh càng rộng thì ngăn con tim càng hẹp cũng như ngoài kia những kẻ đang vươn cao những tượng đài, nối dài những quảng trường thì cũng đang hạ thấp lương tri và cắt đi sợi dây rung cảm của tình người.
Liệu những cảnh người đánh người ngay giữa một đất nước “hòa bình” mà chúng ta nhìn thấy ngoài kia có làm chúng ta cảm thấy ớn lạnh về một thực trạng xã hội đang mục nát từ sâu bên trong lương tâm mỗi con người là sản phẩm của bộ máy tuyên truyền nhồi sọ. Và những con người với thứ nhân phẩm đang mục nát ấy liệu có cấu thành một xã hội tươi đẹp hay không? Hãy nhớ rằng trong tất cả những điều mà chúng ta phải lo liệu cho chính mình và cuộc sống của con cháu mình sau này có cả việc phải kiến tạo một xã hội tươi đẹp để từ đó mỗi con người được cung cấp những thứ dưỡng chất trong lành cho tâm hồn của mình.
Những chua xót mà người Việt cảm nhận được hôm nay không phải chỉ mang đến những đớn đau trong nhất thời mà để dẫn dắt chúng ta đến với sự tỉnh thức. Từ sự tỉnh thức ấy, hãy nhớ lại chúng ta đã bỏ quên bản chất con người của mình từ lúc nào, hãy đi tìm lại nó và giúp những người anh em của mình tìm lại nó để cùng nhau xây dựng lại ngôi nhà dân tộc từ trong cội rễ là tâm tính của mỗi con người chứ không phải xây dựng bằng những công trình mà rồi đây sẽ hư nát vì lương tâm con người cũng đã trở nên hư nát.
Bất công, nghèo đói, tham nhũng, đạo đức suy đồi, môi trường sống bị huỷ diệt, đất nước đang cần kề với hoạ xâm lăng. Đứng trước những vấn nạn đó, ai trong chúng ta không khỏi buồn phiền, khỏi lo âu, khỏi thao thức trước vận mệnh dân tộc. Chúng ta tự hỏi: làm cách nào để đưa đất nước ra khỏi bùn lầy của những bất công, giả dối, ích kỷ, tham lam, ngu muội, thù hằn đây?
Bạo lực ư?
Điều này không thể, và không đáng để dùng. Không thể vì chúng ta không được trang bị để hành động vũ trang đúng cách, không đủ khí tài để chống lại hệ thống công quyền đang tàn phá đất nước. Bọn họ sinh ra từ nòng súng và dối trá, nên chúng ta không thể đối đấu với bọn họ bằng chính sức mạnh đó. Bạo lực không đáng để dùng vì con đường của bạo lực sẽ là bất công, lòng hận thù, và dối trá. Tất cả những gì đang tàn phá đất nước này không phải là hận thù, lòng tham, dối trá, bất công sao.
Chúng ta đã chán ngán những điều đó, chúng ta muốn hoà bình thật sự, công lý thật sự, yêu thương thật sự. Vì không muốn sống trong dối trá, trong bất công, trong lòng tham vô hạn đó mà chúng ta tranh đấu. Vậy con đường nào để cứu nguy cho dân tộc đây? Bất bạo động là con đường đúng nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất mà chúng ta cần để đạt được tự do, dân chủ và nhân quyền. Nhưng bất bạo động là gì? Làm thế nào để thực hiện bất bạo động trước những gì đang xảy ra?
Bất bạo động là gì?
Nó phải chăng là một hệ thống tư tưởng, niềm tin đạo đức nào đó chăng? Chắc chắn bất bạo động muốn truyền đạt được với người khác, nó phải thông qua từ ngữ. Từ ngữ là tư tưởng, nhưng hơn cả tư tưởng thuần tuý, bất bạo động là cái gì đó rất thực tế, mạnh mẽ và đầy hiệu quả. Vậy phải chăng nó là phương pháp đấu tranh với những hình thức bất tuân dân sự như: biểu tình, tuyệt thực, tự thiêu, đàm phán, vân vân để đạt được những lợi ích chính trị? Cũng không phải thế, bởi nếu bất bạo động chỉ là công cụ cho các hoạt động mang tính quyền lực thì nó không thể mang lại hoà bình thật sự, tự do thật sự, yêu thương thật sự. Vậy bất bạo động thực sự là gì?
Bất bạo động là không bạo lực, không hận thù, không ích kỷ, không gian dối Bên Trong. Nó là yêu thương, là hoà bình, là công lý Bên Trong con người bạn. Nếu chúng ta ôn hoà bên ngoài nhưng lòng đây hận thù, thì trước sau chúng ta cũng bạo lực với kẻ khác. Ôn hoà phải đi từ bên trong ra bên ngoài. Ôn hoà này không phải là không có chống trả bên ngoài, nhưng nếu có chống trả nó cũng là chống trả không phải để gây hận thù, gây bất công, gây oan trái lên người khác. Sức mạnh của bất bạo động này không phải là đứng trơ trơ ra trước bất công của người khác, cũng không phải sẵn sàng tấn công người khác khi họ yếu thế. Con đường mà bất bạo động này mang tới dù có tranh đấu quyết liệt nhưng không phải để chia rẽ, để phân biệt mà là để hoà hợp, hoà giải.
Bất bạo động này phải xuất phát từ yêu thương. Yêu thương này không phải là thứ tình cảm nam nữ, bằng hữu, cha mẹ với con cái. Tình yêu trên đều phải có sự thoả mãn mới có đáp trả. Còn bất bạo động xuất phát từ yêu thương đúng đắn, không cần thoả mãn mà chúng ta vẫn ôn hoà với họ. Một người đấu tranh bất bạo động phải là người không có kẻ thù, chỉ có công lý, bình đẳng, tự do. Bởi thế, khi đấu tranh bất bạo động chúng ta không chống lại lực lưọng công an, quân đội mà là chống lại bất công, nô lệ, sự giả dối trong xã hội chúng ta. Để làm được điều đó cần phải có con người bất bạo động, và phải biến bất bạo động thành con người bên trong chúng ta.
Chúng ta ngày hôm nay quá thừa lý thuyết về tình yêu, nhưng lại rất ít những con người yêu thương thật sự. Muốn biết yêu thương là gì, con người phải thực hành yêu thương. Muốn biết bất bạo động là gì, chúng ta cũng cần phải thực hành nó.
Vậy phải áp dụng bất bạo động trong xã hội Việt Nam như thế nào?
Khi nói tới đấu tranh bất bạo động, chúng ta thường nghĩ tới những phương pháp và hình thức đấu tranh được liệt kê trong cuốn sách Từ độc tài đến dân chủ, do giáo sư Gene Sharp viết. Nhưng việc áp dụng nó vào thực trạng xã hội Việt Nam, là một cái gì đó đang rất khó khăn. Tại sao lại như vậy?
Tôi nghĩ hạn chế của người Việt trong các phong trào đấu tranh bất bạo động đó chính là chưa phân định rõ mục đích và phương tiện.
Mục đích của chúng ta là xoá bỏ bất công, các hình thức nô lệ nhằm xây dựng một xã hội công bằng thật sự, dân chủ thật sự, tự do thật sự. Hay nói chính xác, chúng ta đang chống là chế độ độc tài toàn trị chứ không phải cá nhân hay nhóm người cụ thể.
Có nhiều người đang hướng mũi tên vào con người cụ thể hơn là thể chế. Con người cụ thể, nhóm người nào đó chỉ là công cụ cho chế độ này, nếu chống lại họ thì thật không khôn ngoan chút nào. Bởi điều này chỉ tạo ra sự phân chia giữa các thành phần trong xã hội, hơn là đấu tranh chống lại bất công, nô lệ. Chúng ta nếu còn tiếp tục đẩy những lực lượng vũ trang ra xa con đường hoà giải và hoà hợp, thì họ càng có lý do để đàn áp, bắt bớ và khủng bố chúng ta. Phải thực hiện bất bạo động để tranh đấu cho công lý, tự do, nhân quyền chứ không phải là đấu tranh để tạo thêm khoảng cách giữa những thành phần trong xã hội.
Con đường bất bạo động thực sự phải là sống bất bạo động. Nếu nghĩ rằng bất bạo động chỉ là những hình thức dùng để tranh đấu trong xã hội, thì chúng ta chỉ hiểu về nó như phương pháp chiến đấu, và việc áp dụng sẽ rất hình thức. Chúng ta áp dụng các hình thức đấu tranh mà không có bất bạo động bên trong, thì phong trào sẽ không mang lại hiệu quả thực sự. Chúng ta biết về các hình thức đấu tranh bất bạo động, vậy hệ thống độc tài lẽ nào không biết về nó.
Có phương pháp tranh đấu thì cũng có phương pháp phá giải nó. Nhưng bất bạo động thực sự khác ở chỗ, vũ khí thật sự là sức mạnh bên trong. Khi tất cả chúng ta đều là những con người bất bạo động, thì tôi tin chắc chẳng có bất kỳ phương pháp nào có thể phá giải sức mạnh tinh thần cao thượng này. Chỉ có một cách duy nhất là giết hết những con người có sức mạnh bất bạo động bên trong này. Họ có thể giết chết con người nhưng không thể giết chết tinh thần. Chính sức mạnh bên trong mới là thứ đáng sợ với tất cả mọi chế độ độc tài, bởi nó có sức ảnh hưởng tới những tâm hồn héo khô và vô cảm nhất.
Tôi đã thấy có nhiều người mất niềm tin vào đấu tranh ôn hoà, họ dù thế nào cũng chỉ vì không chịu đựng được sự tàn ác của chế độ. Không phải họ trở nên bạo lực hơn để có thể chống lại bạo lực của độc tài, mà họ chưa có tinh thần ôn hoà phía bên trong tâm hồn, nên họ rời bỏ hàng ngũ của bất bạo động. Còn lại, hầu hết những ai chưa từ bỏ con đường bất bạo động, tất cả chúng ta đều tin rằng, khi sức mạnh tinh thần cao thượng tụ lại với nhau, cùng đồng lòng với nhau thì nó sẽ cuốn bay đi tất cả những gì là xấu xa, bất công, nô lệ mà nó đi qua. Hãy vững tin vào sức mạnh mà chúng ta đang nương nhờ, nó đủ để cứu sống không chỉ một con người mà cả một dân tộc ra khỏi những bóng đêm của ngục tù.
Thảm hoạ cá chết nghĩ về phát triển kinh tế và vai trò của nhà nước trong xã hội
Link thảo luận:
Featured Image: Owen Byrne
Đã hơn 20 ngày xảy ra thảm hoạ biển nhiễm độc, cá chết hàng loạt, người dân điêu đứng vì mất kế sinh nhai ở miền trung, nhưng chính quyền vẫn mất hút như chưa từng tồn tại. Bên cạnh đó lại có hai luồng dư luận trái chiều nhau về phát triển kinh tế sau câu nói đanh thép của giám đốc đối ngoại Formosa HT về "cá hay thép". Một bên xem phát triển thì cần phải có hy sinh, bên kia thì phát triển nhưng cần đảm bảo lợi ích chung. Bài viết này xin đề cập đến vai trò của chính quyền trong xã hội, qua đó tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: cách hành xử của chính quyền đối với thảm hoạ đang xảy ra có chấp nhận được hay không? Và chúng ta nên làm gì đối với một chính quyền như vậy? Cũng như bày tỏ quan điểm về vấn đề phát triển kinh tế có cần thiết phải hy sinh những điều khác hay không? Và tìm ra một giải pháp thích hợp cho phát triển kinh tế.
Vai trò của nhà nước trong xã hội
Chúng ta biết xã hội được tạo nên bởi rất nhiều mối quan hệ giữa con người với con người. Trong mạng lưới quan hệ chằng chịt này, tất sẽ có những mâu thuẫn về quan điểm, về lợi ích. Để không xảy ra những xung đột gây bất ổn cho toàn xã hội, tất cả chúng ta cần đến những quy tắc hành xử chung. Những quy tắc chung này được gọi là pháp luật. Tất cả những bộ luật về dân sự, hình sự, luật tố tụng, hôn nhân và gia đình đều phải giữa trên các quy tắc được viết trong Hiến Pháp. Và để pháp luật có hiệu quả trong xã hội, chúng ta cần đến nhà nước. Như vậy, nhà nước tồn tại là để đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của luật pháp, tức là để giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội, đảm bảo sự bình yên cho mọi người. Chúng ta quay trở lại thảm hoạ đang xảy ra ở miền trung, để xem nhà nước đã làm tròn trách nhiệm của mình mà xã hội giao phó chưa?
Thảm hoạ biển nhiễm độc, cá chết hàng loạt đã xảy ra được hơn 20 ngày, nhưng chính quyền đã làm được gì? Đối với tôi mà nói, khi thảm hoạ xảy ra được hai ba ngày chính quyền đã phải có ngay những giải pháp ngắn hạn để đối phó với nó. Họ phải lập tức cho người đến kiểm tra lý do vì sao cá chết? Đánh giá tình hình nếu nó là một thảm hoạ do thiên nhiên, hoặc do con người? Dựa vào việc phân tích các xác cá chết bất thường, họ có thể sẽ biết làm gì tiếp theo. Nếu xác định cá chết do chất độc, và chất độc này nguy huỷ tới tính mạng con người. Họ một phải khoanh vùng chất độc đó trong các vùng biển và ra thông báo để người dân không ai được tắm biển nơi có chất độc lan toả. Hai là lập tức đưa ra những giải pháp để xử lý các xác cá trên bãi biển. Ngăn cấm người dân thu mua, cũng như ăn cá bị tình nghi là chết do độc tố. Bên cạnh đó, họ phải lập tức đưa ra những giả thuyết có cơ sở khoa học về nguyên nhân thật sự khiến biển nhiễm độc. Nếu là thiên nhiên thì phải có những biện pháp nào, cần đến sự trợ giúp quốc tế như thế nào? Nếu là con người phải nhanh chóng khoanh vùng đối tượng để có thể có những biện pháp kịp thời và hợp lý. Ví dụ nếu tình nghi Formosa, lập tức phải cho ngay một đoàn kiểm tra theo dõi quá trình xả chất thải của tập đoàn này cho tới khi nào tìm ra đối tượng thật sự. Làm điều này vừa đảm bảo được doanh nghiệp vẫn hoạt động bình thường, vẫn kiểm soát được tình hình ít nhất là không để chất độc được thải ra nhiều hơn nếu họ là nguyên nhân.
Bên cạnh đó, việc truy tìm nguyên nhân chính, công khai với báo chí, cập nhật tình hình với người dân là việc làm liên tục của chính quyền. Điều này giúp người dân ý thức được mức độ nguy hiểm của chất độc trong cá và biển, sẽ khiến công việc xử lý xác cá chết được dễ dàng mà lại tránh tình trạng người dân thu mua cá chết, tung ra thị trường. Một việc cần làm không kém phần quan trọng như tìm ra nguyên nhân thật sự, đó là trấn an người dân ở những vùng bị thảm hoạ. Nếu tình trạng kéo dài, cuộc sống của bà con ngư dân sẽ khốn đốn. Chuyện này đứa trẻ lên ba cũng suy luận ra, nên việc cứu trợ lúc người dân không thể ra biển là chuyện cần phải có.
Thế mà, nhìn lại suốt hơn 20 ngày qua tôi hầu như chẳng thấy chính quyền có bất kỳ một động thái nào gọi là giải quyết thảm hoạ. Chính quyền này đang làm gì và ở đâu khi thảm hoạ đang tàn phá cuộc sống của hàng triệu người dân? Rõ ràng vai trò của chính quyền trong việc giải quyết thảm hoạ là chủ yếu, những cá nhân, tổ chức khác đều chỉ là trợ giúp khi cần. Nhưng họ phủi tay, họ như trốn chạy và làm như chính họ là kẻ đã gây ra thảm hoạ kinh khủng này. Một chính quyền đã không thể làm trọn trách nhiệm của mình trong xã hội, đó là đảm bảo an toàn cho người dân của họ lúc họ cần nhất, thì thử hỏi chính quyền đó tồn tại để làm gì? Nhiều người bảo họ còn những công việc trọng đại khác thì lại càng không thể chấp nhận được. Tại sao ư? Đối với tôi, giờ không còn công việc nào quan trọng hơn là giải quyết dứt khoát thảm hoạ đang xảy ra ở miền trung.
Biển đang chết, cá đang chết, và ngư dân của mấy tỉnh miền trung đang chết. Hàng vạn con người, sinh mạng của họ lẽ nào không quan trọng hơn là bất kỳ công việc nào khác sao? Còn việc xử lý hàng chục tấn cá chết vì nhiễm độc thì sao? Lẽ nào công việc đó không quan trọng nhất lúc này sao? Cá không được xử lý đúng cách sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm không khí. Rồi còn tình trạng nhiều người đang thu mua cá chết để chế biến tung ra thị trường sau khi sự việc này lắng xuống. Còn công việc nào quan trọng hơn là mạng sống nhân dân, những chủ nhân mà những đầy tớ tuyên thệ trung thành và bảo vệ đến cùng.
Bởi thế, đối với tôi mà nói, tôi không thể chấp nhận có một chính quyền như vậy trong xã hội. Nếu chính quyền không là nguyên nhân gây ra thảm hoạ này, thì những gì họ đang làm lại khiến họ trở thành nguyên nhân khiến thảm hoạ lan tràn trên diện rộng. Đáng chết như chính kẻ gây ra thảm hoạ. Và chính cách làm việc vô trách nhiệm, độc ác này của chính quyền mới là nguyên nhân khiến người dân biểu tình mấy ngày qua. Không có bất kỳ ai kích động, xúi dục họ xuống đường, chính quý vị đã khiến họ phải xuống đường để yêu cầu giải quyết vấn đề cuộc sống cho họ.
Bây giờ, chúng ta quay trở lại với câu hỏi: nếu Formosa là nguyên nhân thật sự, vậy chúng ta nên chọn cá hay thép? Thực ra đây không phải là câu hỏi về Formosa nữa, đây là câu hỏi mang tầm vĩ mô trong chính sách kinh tế của nhà nước: phát triển kinh tế như thế nào mới đúng đắn? Phải chăng cần phải có sự hi sinh, như hy sinh môi trường, hy sinh nghề cá, nghề du lịch biển để có được ngành công nghiệp hiện đại?
Tại sao chúng ta cần phát triển kinh tế? Nếu phát triển vì phát triển, tức là phát triển nghề thép vì thép, sắt vì sắt, dầu vì dầu, điện vì điện, xe vì xe thì lúc này con người là công cụ. Nếu con người là công cụ để phát triển thì không cần phải bàn đến môi trường. Bởi sắt, thép, xe hơi, dầu hoả, điện chúng không quan tâm đến môi trường sạch hay bẩn, nhiễm độc hay trong lành. Cứ thế mà phát triển, cứ thế mà thải, mà gây ô nhiễm. Nhưng nếu phát triển vì con người, tức là vì muốn con người được sống ấm no, hạnh phúc, thì lúc này chúng ta mới quan tâm đến vấn đề chọn lựa. Tôi nói đến chọn lựa chứ không nói đến hy sinh.
Khi nói về hợp tác, chúng ta thường nghe đến cụm từ: hợp tác cùng có lợi. Tức là win-win. Vậy thử phân tích trường hợp của Formosa, chúng ta thấy nguyên tắc trên có thật sự là win-win?
Nhiều người ủng hộ sự hy sinh môi trường để phát triển kinh tế, thường lập luận rằng: các tập đoàn này sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều công ăn việc làm, giúp chúng ta có ngành công nghiệp phát triển, và chúng ta sẽ thu được một số tiền khổng lồ từ các tập đoàn này nếu chấp nhận những ht sinh cần thiết. Cứ cho giả thuyết này là đúng, vậy thứ phân tích xem nó đúng đến nức nào.
Lấy Formosa làm ví dụ. Cứ cho là chúng ta chấp nhận Formosa được phép thải chất độc hại ra môi trường mà không cần nhiều lắm đến các quy trình xử lý chúng. Điều này giúp Formosa giảm nhiều chi phí về công nghệ xử lý chất thải, và vì thế lợi nhuận của tập đoàn này tăng. Vì lợi nhuận tăng, Fomosa muốn mở rộng các hoạt động của mình trên Việt Nam, nên có thêm nhiều khu công nghiệp khác trên cả nước Việt Nam. Họ cũng đều được nới lỏng các tiêu chuẩn về chất thải ra môi trường, cũng như những điều khoản khác. Với động thái này, chắc chắn Formosa giúp Việt Nam giải quyết được vấn đề việc làm, tạo thêm nhiều thu nhập cho nước nhà từ người dân đến nhà nước. Nhìn qua có vẻ hợp tác kiểu này đúng win-win, nhưng xét về lâu dài đây là kiểu hợp tác: win-fail.
Kẻ thắng là tập đoàn Formosa, kẻ thua là người dân Việt Nam. Tại sao? Vì Fomosa được phép thải chất thải ra môi trường mà bỏ qua những tiêu chuẩn cần thiết, trong một thời gian môi trường bị ô nhiễm. Nước bị ô nhiễm, đất bị ô nhiễm, không khí bị ô nhiễm. Lúc này tiền vẫn cứ đến với các công nhân làm trong nhà máy và vẫn chảy đều đều vào ngân sách nhà nước, nhưng tiền lúc này không thể làm cho nước hết bẩn, không khí hết bẩn, đất đai hết bẩn. Lúc này nhu cầu sử dụng không khí sạch đóng bình bắt đầu, nước sạch bắt đầu. Vậy là số tiền công nhân kiếm được thay vì sử dụng những nhu cầu khác, thì lại mua những thứ đáng lẽ ra nó không cần mua.
Cũng thế, với tình trạng ô nhiễm trầm trọng xảy ra trên cả nước, nhà nước phải sử dụng ngân sách để làm sạch môi trường. Việc làm sạch môi trường lúc này cần đến thời gian hàng chục năm, và tiền bạc thì cần rất nhiều. Số tiền thu được từ Fomosa đáng lẽ ra có thể làm những việc có ích khác như tạo dòng vốn trong xã hội, hay cung cấp thêm nhiều dịch vụ y tế, giáo dục tốt hơn, thì nay lại sử dụng vào việc làm không cần làm nếu biết tính toán từ trước. Có thể nói, Fomosa mang lại cho chúng ta tiền đấy, thép đấy nhưng chúng ta lại không được dùng như chúng ta mong muốn. Bên cạnh đó, khi môi trường bị nhiễm độc việc thu hút dòng vốn đầu tư từ nước ngoài sẽ hạn chế, có thể sẽ ngừng hẳn. Vì sẽ có những bất ổn về chính trị, xã hội xảy ra do nạn ô nhiễm môi trường gây ra.
Điều này dễ hiểu, hãy nhìn vào những gì đang xảy ra ở Việt Nam, hay những xung đột đã và đang xay ra trên thế giới vì môi trường sống bị huỷ hoại. Các tập đoàn họ sẽ không chấp nhận rủi ro khi xã hội không có tính ổn định. Điều này khiến kể hoạch cộng nghiệp hoá cũng phá sản. Lúc này ai mới là kẻ chiến thắng trong sự hợp tác này. Chắc chắn đó chính là Fomosa. Họ có tiền, họ thu về lợi nhuận. Và khi cảm thấy đủ họ sẽ đầu tư nơi khác, và sống ở một nơi khác có môi trường sống trong lành hơn. Chúng ta mất tất cả, họ được tất cả.
Vậy như thế nào mới phát triển kinh tế đúng đắn?
Phát triển là vì con người, chứ không thể hy sinh con người vì phát triển. Chắc chắn một chính sách phát triển đặt nền tảng trên quyền lợi chung, lợi ích chung là một chính sách phát triển đúng đắn. Sự thực là chính sách phát triển hiện nay của Việt Nam có quá nhiều sai lầm. Trong mấy chục năm qua người dân đã hy sinh rất nhiều để phát triển kinh tế, vậy thử nhìn lại coi chúng ta được gì? Tham nhũng, lạm quyền, các nhóm tư bản đỏ ngày một nhiều, còn người dân thì vẫn khốn khổ, môi trường thì ô nhiễm trầm trọng, kinh tế thì vẫn lết đết theo sau đít người khác. Đến ngay cả con ốc vít con chưa chế tạo nổi, thì nói mẹ gì tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chính sách phát triển đòi hỏi hy sinh chỉ tạo thêm nhiều bất ổn trong xã hội, và đây là chính sách phát triển kinh tế sai lầm. Chắc chắn phải có một chính sách phát triển hợp lý, đúng đắn.
Chúng ta cần phải phát triển kinh tế, không ai phủ nhận điều này. Nhưng không phải đặt trên nền tảng là hy sinh, mà là giải pháp tốt nhất. Đâu nhất thiết thu hút đầu tư nước ngoài, là phải hy sinh nhóm dân này, hệ sinh thái nọ. Để có thể có nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta cần có một chính quyền trong sạch, một nền pháp quyền hoàn thiện, những chính sách thuế khoản hấp dẫn, những nguồn lực dồi dào và chất lượng, hệ thống giao thông hiện đại. Bên cạnh đó, bỏ đi các thủ tục hành chính rườm ra không đáng có, đảm bảo tính ổn định của xã hội bằng các giá trị tự do, nhân quyền. Nếu chúng ta làm được điều đó, tôi dám chắc nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển nhanh hơn bao giờ hết, mà không cần phải hi sinh môi trường, hy sinh nghề biển, hy sinh đất sinh sống của người dân.
Có lẽ chưa bao giờ thế giới thông tin và giải trí lại phong phú, đa dạng và phát triển một cách chóng mặt như ngày hôm nay. Ở cả ba loại hình nghe, nhìn và đọc, chúng ta đều có thể dễ dàng nhận thấy rằng hiện nay, người thưởng thức nói chung và giới trẻ nói riêng đang được tận hưởng một đời sống tinh thần no đủ thậm chí là dư dả.
Ngay cả cách để người ta tiếp cận các loại hình văn hóa cũng thuận tiện và không còn phải chật vật như trong trí nhớ của những người trẻ thế hệ 8x trở về trước vẫn còn lưu giữ. Đó là những khó khăn mà người ta phải trải qua đôi khi chỉ để nghe được một bản nhạc hay sự mong ngóng để được xem một bộ phim phát trên truyền hình.
Bây giờ chỉ cần vào Youtube người ta có thể xem bất cứ thứ gì mình muốn. Các trang nhạc online luôn luôn đáp ứng mọi gu âm nhạc của mọi đối tượng. Để được cầm trên tay một quyển sách mà mình yêu thích cũng không cần phải chạy ra nhà sách lục lọi, tìm kiếm mà cơ hội tìm được đôi khi chỉ là may rủi, các dịch vụ bán sách online đang phục vụ rất tốt trong vấn đề này và càng ngày càng tăng dần chất lượng phục vụ. Vì vậy thiết nghĩ, con đường tìm kiếm tri thức và tô điểm cho tâm hồn, làm giàu tinh thần, học hỏi và trau dồi nhân cách thông qua con đường tiếp cận văn học, nghệ thuật của con người trong xã hội hôm nay chưa bao giờ thuận tiện đến thế, với sự hỗ trợ đắc lực của internet.
Tuy nhiên, cũng thông qua cánh cửa rộng mở của internet, có lẽ không ai trong chúng ta không đủ tinh tế để nhận ra chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự tha hóa nhân cách ngày một trầm trọng, đời sống tinh thần của giới trẻ ngày một non yếu hơn và tâm hồn của các bạn trong thời đại này có lẽ chỉ còn là những khu vườn hoang vu, thiếu bàn tay chăm sóc. Đâu là nguyên nhân của sự mâu thuẫn này?
Tôi có dịp tiếp xúc và quan sát nhịp sống của nhiều thanh thiếu niên và đã kịp rút ra cho mình nhiều sự cảm nghiệm, trong đó có không ít ray rứt và lo ngại về một tương lai của đời sống văn hóa người Việt không mấy tươi sáng nếu một ngày nào đó chính các bạn bước vào tuổi trưởng thành, trở thành những con người đại diện cho cả xã hội. Nhìn chung, tư duy “ăn xổi ở thì” vốn đặc trưng cho đời sống thể chất của con người đương thời thì nay cũng đang lấn át sang khía cạnh tinh thần.
Cư dân mạng chính là những người hiểu rõ vấn đề này hơn ai hết khi mỗi ngày trên các trang mạng xã hội, tất cả những gì mà các bạn trẻ quan tâm chỉ là “đang có vụ gì hot?” trong khi đó có những vấn nạn khiến cả xã hội hoang mang đang tồn tại từ năm này qua tháng nọ vẫn chưa đi đến hướng giải quyết mà ngược lại đang bị chính các bạn dần dần quên lãng hay coi đó không phải là chuyện của mình. Chính cái cách quan tâm cuộc sống này đang hình thành trong giới trẻ một sự thờ ơ trước các vấn đề chung của cộng đồng mà chỉ chăm chăm đáp ứng nhu cầu bắt kịp xu hướng, hưởng ứng trào lưu để hùa theo đám đông hay đơn giản chỉ thỏa mãn thói ngồi lê đôi mách. Có lẽ nói đến đây, những con người của thời đại hôm nay thật sự quan tâm thực tại cuộc sống đã không còn thấy vấn đề này là xa lạ nữa. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không liên tục nhắc lại và đem ra mổ xẻ.
Quay lại việc giải trí, các video hài hước, chọc cười đôi khi rất nhảm nhí mà chính cái chất nhảm nhí của nó là phương tiện chính để chọc cười chứ nội dung hoàn toàn không mang ý nghĩa gì lại đang thu hút lượt view đáng ao ước trên Youtube. Và khi dạo qua các tụ điểm hay bất cứ nơi nào mà các bạn trẻ tụ tập, lướt qua các màn hình điện thoại, chúng ta dễ dàng nhận thấy các bạn đang chăm chú xem những video này và cười với nhau rất sôi nổi. Không thiếu những thứ hay ho, ý nghĩa khác trên mạng chia sẻ video lớn nhất thế giới này, tại sao các bạn lại chỉ quan tâm những video ấy.
Phim hài nhảm đang là thể loại hút khách ở các rạp và điều này lại làm các tác phẩm được gọi là điện ảnh này đang không ngừng gia tăng về số lượng khiến chúng ta một lần nữa lại phải ưu tư về vai trò định hướng thưởng thức của người làm nghệ thuật đang ở đâu trên mảnh đất này. Chủ nghĩa thực dụng và sự lên ngôi của đời sống tôn thờ vật chất đã tạo ra một cách làm ngược với lương tâm người làm nghệ thuật khi chỉ chạy theo thị hiếu để trục lợi.
Vấn đề người Việt thích xem hài đi kèm với chất lượng các tác phẩm hài ngày một đi xuống cũng đã gây nhiều trăn trở cho các nhà làm văn hóa khi điều đó ngày càng thể hiện một cách mạnh mẽ rằng, người Việt đang dần quan tâm nhiều đến cảm giác hơn là cảm xúc. Người trẻ ngày nay thích cười những tràng cười sảng khoái trước những trò hề ngớ ngẩn hơn là suy niệm những thông điệp nhân văn, tìm tòi để dần dần hiểu được ý nghĩa cuộc sống.
Khi băn khoăn về mục đích sống của mình, các bạn không đào sâu đến gốc tích của vấn đề nhằm khai sáng cho bản thân mà ngay lập tức tìm quên, phủ lấp nỗi ưu tư của mình bằng những phương tiện xả stress, điều đó dần hình thành thói lười suy nghĩ. Và khi con người ta lười suy nghĩ, chỉ đi tìm những ngây ngất nhất thời thì chúng ta đừng mơ đến hai từ phát triển. Vì không suy nghĩ thì không tìm ra cái mới, không có cái mới thì làm sao có phát triển.
Tương tự ở chuyện đọc, tôi có một quan niệm trong việc đọc đó là số lượng không quan trọng. Không phải cứ đọc nhiều là tốt vì thật sự với một quyển sách giá trị và sâu sắc, khi chúng ta buông nó xuống tức là để cho nó đeo bám trong suy nghĩ của mình suốt đời. Chúng ta sẽ còn phải đọc lại nó nhiều lần hơn nữa, không phải cầm nó lên lại mà là đọc nó trong suy tưởng. Đa số các sách văn chương đều tạo được tác động đó đối với người đọc, điều này khiến cho tư duy chúng ta luôn có chiều hướng vận động và phát triển, tạo ra những phát kiến mới trong tâm trí.
Khi nghe các bạn trẻ chia sẻ rằng mình thích đọc sách, tôi cũng cảm thấy có phần vui mừng. Tuy nhiên, khi đi sâu hơn vào các thể loại mà các bạn thường đọc, tôi mới phát hiện ra rằng phần lớn các bạn nữ đọc ngôn tình, còn các bạn nam thì đọc các thể loại sách helpself, sách dạy làm giàu, bí quyết thành công,… Tôi không có ý nói rằng các thể loại này không tốt và cũng không hề phủ định những ích lợi ngay trước mắt của việc đọc các thể loại này nhưng tôi rất muốn nói rằng các bạn đang tiếp xúc với một phần rất nhỏ mà lại còn không quan trọng cho lắm trong môi trường phong phú và rộng lớn của văn hóa đọc.
Các giải thưởng văn học như Pulitzer, Nobel văn chương, Man Booker,… của thế giới đang làm rất tốt vai trò định hướng văn hóa đọc. Một người đọc thông minh và có hiểu biết chỉ cần theo dõi những giải thưởng này là đã có thể tích lũy cho mình những đầu sách giá trị. Tuy vậy, bao nhiêu bạn trẻ biết được điều giản đơn này và ai nói cho họ biết khi mà trong thời đại công nghiệp vô cùng tất bật hiện nay, sự gần gũi giữa các thế hệ đang ngày một giãn cách ra khi người lớn giải trí theo cách của người lớn và để mặc con trẻ cho thời thế lôi cuốn vô hình trung khiến các bạn lạc lối hay đang đi những con đường lòng vòng trong cái ma trận thông tin của thời đại công nghệ dẫn đến việc “đói thông tin” ngay giữa thời buổi thông tin tràn lan, thừa mứa hôm nay.
Cũng với cùng một cách nghĩ như trên đối với các hình thức giải trí và tiếp nhận thông tin khác, tôi rất buồn khi phải kết luận rằng giới trẻ của chúng ta đang dấn vào con đường biết cái không cần biết và không biết cái cần biết. Bên cạnh đó là sa lầy với một lối sống thức thời, xa rời chân, thiện, mỹ là những giá trị mà nhân loại bao đời tìm kiếm. Nay, với sự thờ ơ của các bạn, tôi lại phải đau buồn mà nói rằng cái đẹp đang chết dần trong thời đại ngày hôm nay.
Tác hại của việc vô định hướng trên như chúng ta thấy không phải là không rõ rệt, nó đang hiển hiện trong tính cách và sinh hoạt tinh thần của giới trẻ ngày nay. Nhiều bạn bị thiếu vốn từ nghiêm trọng, vụng về trong cách diễn đạt và trình bày suy nghĩ. Thiếu sự hiểu biết về các giá trị nền tảng của đời sống nhân bản như đạo đức, luân lý, niềm tin, công lý, sự thật,… Mà những điều này có những tác động không nhỏ trong việc xây dựng nhân cách con người và tô điểm tâm hồn của các bạn trẻ nhất là trong thời đại kim tiền này, sự tha hóa nhân cách luôn chực chờ nuốt chửng lấy mỗi con người.
Nói như vậy không chỉ để các bạn trẻ hiểu ra vấn đề mà thay đổi cách nhìn nhận vì trên thực tế con người thường khó chuyển đổi được ý thích của mình và sự tôn trọng quyền cá nhân đang được xã hội bảo vệ. Nhưng xã hội nào cũng có chuẩn mực của nó và người ta không được lãng quên chân lý cũng như phải nhìn ra ý nghĩa cuộc sống ít nhất là trong phần còn lại của đời mình.
Các bạn trẻ được quyền chọn lựa con đường riêng của mình điều đó không có nghĩa là những người đi trước không có trách nhiệm hướng các bạn đến cái đẹp. Vậy chẳng lẽ những con người hiểu rõ các chuẩn mực ấy lại chấp nhận khoanh tay đứng nhìn tương lai của đất nước đang ngày càng mục ruỗng ý thức và ngày càng tự giết mình vì ngay từ đầu đã không chịu cố gắng làm cho chân lý, cái đẹp được bám rễ sâu vào con người mình khiến sự tha hóa cứ ngày một lan rộng. Nếu chẳng may một cơn giông tố nào đó kéo đến, chúng ta có tự hỏi thế hệ này rồi sẽ đi về đâu?
"Lợi nhuận" chính xác là vấn đề của xã hội Việt Nam. Vì chữ lợi này mới có những thảm hoạ như ung thư, tai nạn giao thông, cây xanh, hạn hán, và bây giờ là biển chết. Vâng biển đang chết khi cá không thể sống. Cá đang chết và người đang chết.
Vậy kẻ nào đã gây ra thảm hoạ cá chết hàng loạt trong 20 mấy ngày qua ở biển miền trung?
Chúng ta phải gọi đây là một thảm hoạ, vì nó không chỉ gây ô nhiễm môi trường biển trên diện rộng khiến cá chết rất nhiều, mà nó đang khiến hàng triệu con người lâm vào cảnh sống chết mong manh.
Biển là mạng sống của hàng triệu ngư dân miền trung. Nếu biển nhiễm độc thì mạng sống của hàng triệu con người đó cũng đang nhiễm độc. Biển bị nhiễm độc nên cá chết, cá chết thì ngư dân cũng chết. Ngành thuỷ hải sản ở mấy tỉnh này cũng đang chết. Mà không chỉ ngư dân chết, ngành du lịch biển cũng chết. Biển nhiễm độc ai còn dám ra bãi biển tắm nữa chứ. Mà không chỉ ngành du lịch biển chết, toàn bộ người dân Việt Nam cũng sẽ điêu đứng vì sự nhiễm độc này.
Đang có những thông tin về những thương lái thu gom cá chết để chế biến nhằm tung ra thị trường khi sự việc này lặng xuống. Cá đã chết vì nhiễm độc, chết rất nhiều. Nên nhớ độc tố này phải là cực độc và lớn mới khiến cá chết hàng loạt như vậy. Và hơn nữa, đã có những thông tin về người chết do nhiễm độc từ biển, trong đó có anh thợ lặn phát hiện ra đường ống xả nước thải của một tập đoàn nước ngoài. Hãy tưởng tượng, với sở thích ham rẻ, lại là thiên đường nhậu nhẹt thì những sản phẩm độc hại kia đâu khó để đi đến dạ dày người Việt trên toàn quốc. Hàng triệu người sẽ dở sống dở chết vì loại cá nhiễm độc này. Một thảm hoạ đáng sợ chẳng khác nào hai quả bom nguyên tử rơi xuống Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai, hay diệt chủng Ponpot ở Campuchia.
Vậy đây là thiên tai hay nhân tai?
Tất cả bằng chứng đều đang đổ dồn về một thảm hoạ do con người gây ra, và cái tên được nhắc nhiều nhất lúc này là tập đoàn Formosa. Tập đoàn Formosa được gọi là "hành trình đen" bởi những thành tích bất hảo về huỷ hoại môi trường trong quá khứ ở nhiều nơi trên thế giới. Formosa ở Việt Nam cũng đang có nhiều dấu hiệu để chứng minh sự tàn phá đó trong môi trường ở Việt Nam. Một vùng cấm, một đường ống nước thải ngầm dưới biển, nhấp mấy chục tấn hoá chất độc hại, một tập đoàn có nhiều liên quan đến Tàu Cộng và phát ngôn chọn "thép hay cá" mới đây.
Tôi không quan tâm đây là tập đoàn của Đài Loan hay của TQ, nhưng nhiều người đang quan tâm vấn đề này hơn. Nếu chỉ vì bài Tàu mà chúng ta căm hận Formosa trong thảm hoạ cá chết mấy ngày qua, thì chúng ta đang mắc sai lầm. Hay tệ hơn là chúng ta cũng đang lợi dụng sự khốn khổ của bà con ngư dân 4 tỉnh miền trung, để mưu đồ thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Còn nếu vấn đề của chúng ta là muốn xử lý đúng người, đúng tội trong thảm hoạ biển chết, thì chúng ta cần phải tỉnh táo để không bị lợi dụng trong trò chơi quyền lực của giới chính trị.
Điều tôi quan tâm là nếu Fomosa là thủ phạm gây ra thảm hoạ ghê rợn này trên đất nước tôi, thì họ cần phải bị xứ lý thích đáng. Nhưng tôi không tin họ sẽ bị xử lý nếu không có sức ép cực lớn từ dư luận. Còn nếu không, phó mặc cho đám cô hồn nhà sản, mọi việc sẽ "Vũ Như Cần".
Bởi nếu Formosa là thủ phạm, sẽ có thêm mấy Formosa tương tự trong thời gian tới
Câu chuyện về tập đoàn khổng lồ này không đơn giản như chúng ta nghĩ, bởi những đặc quyền mà nó có trong hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Những ưu đãi, những vùng cấm mà tập đoàn nước ngoài này được hưởng trên đất nước Việt khiến tôi thấy rùng mình khi nghĩ đến những quả bom nguyên tử khác đang hoạt động trên khắp Việt Nam.
Hiện tại đã có thực phẩm độc, thuốc men độc, rượu bia độc, quần áo nhiễm độc, nước nhiễm độc, giáo dục độc, tôn giáo độc, biển độc. Với tình trạng này sẽ còn có thêm đất đai độc, chim chóc độc, cây cỏ độc, không khí độc. Vì thế, không cần gì phải đem quân xâm lược, trong vài năm tới người Việt không chết thì cũng bỏ quê hương mà đi.
Vậy ai, kẻ nào đã tiếp tay biến nước Việt Nam thành thiên đường của chất độc thế này?
Là tôi, là bạn, là tất cả chúng ta khi chúng ta phó mặc mọi chuyện cho một nhóm người lo liệu. Là tôi, là bạn, là tất cả chúng ta khi chúng ta hèn nhát, sợ hãi trước bạo quyền. Là tôi, là bạn, là tất cả chúng ta khi chúng ta chỉ biết nghĩ đến mình, gia đình mình mà vô cảm trước nỗi đau của đồng bào. Là tôi, là bạn, là tất cả chúng ta khi còn mê muội tin tưởng, phục tùng trong hệ thống tham nhũng, quan liêu của chế độ này. Là tôi, là bạn, là tất cả chúng ta khi chỉ biết tìm cách vượt biên, chạy trốn khỏi Việt Nam để lại toàn bộ gia sản ông cha cho bọn tham lam, độc ác và ngu si. Là tôi, là bạn, là tất cả chúng ta khi đánh đập, bắt bớ, bỏ tù người khác vì quan điểm, cưỡng chiếm đất đai của bà con dân oan.
Lỗi của chính quyền tham lam này là cướp đi quyền của chúng ta, lỗi của chúng ta là biết chúng cướp mà không đòi lại. Bởi chúng ta không có quyền nên chúng ta không thể làm gì với Formosa, nếu nó là thủ phạm. Bởi chúng ta không có quyền, nên chúng ta không thể vô hiệu hoá những quả bom hẹn giờ như Formosa, Bauxite tây nguyên, vân vân. Vì không có quyền nên phải để thằng ngu, tham, và ác có quyền giải quyết.
Sự mờ ám của khu công nghiệp Vũng Áng đã được phù phép bằng thứ gì trong mấy năm qua, thì câu chuyện về cuộc sống ngư dân, biển và cá của mấy tỉnh miền trung mấy ngày qua cũng sẽ giải quyết êm đẹp bằng thứ đó. Và sẽ được giải quyết êm đẹp như thế trong tương lai khi có thêm thảm hoạ về rừng, về đất, về cây cỏ. Bởi vì chúng ta không đòi hỏi cho được quyền của mình, nên chúng ta sẽ không có sự chọn lựa. Sự chọn lựa chỉ có giới hạn như chính lợi ích mà Formosa mang lại cho nền kinh tế VN, và nó giới hạn trong mười mấy người không hơn không kém. Bởi thế, tôi vẫn muốn hỏi: tôi thật sự có quyền chọn lựa giữa "cá và thép" sao?
Có thực tổ tiên dân tộc Lạc Việt chúng ta nở ra từ trứng? Có thực có mười tám vua Hùng chia nhau hơn hai ngàn sáu trăm năm cai trị? Thái độ của người trẻ hôm nay thế nào cho đúng với chủ đạo dân tộc?
1. Sự hình thành dân tộc Việt theo thần thoại
Dân tộc cần có một chủ đạo, điều đó là hiển nhiên. Đối với những dân tộc có lịch sử lâu đời, chủ đạo dân tộc thường bắt đầu từ truyện thần thoại giải thích sự hình thành dân tộc, nói cách khác là sự tích về các thần tổ tiên; rồi đến giai đoạn ngoại sử: về các vua tổ tiên, về các anh hùng dân tộc cổ đại, lý giải về các đặc điểm văn hoá đặc thù; sau đó mới đến dòng chảy lịch sử chính thống. Hiện nay hầu hết người Việt bị lẫn lộn giữa thần thoại và chính sử.
Bỏ bớt những điều rườm rà, hầu hết người Việt ngày nay đều chấp nhận "nguồn gốc" con Rồng cháu Tiên của dân tộc mình. Cụ thể, truyền thuyết kể rằng: rồng thần Lạc Long Quân kết hôn với chim tiên Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai. Một trăm người này cưới vợ sinh con và phát triển thành một trăm dân tộc cùng gốc Việt, thường gọi là Bách Việt. Thực tế: có nhiều nhóm dân cư tiền sử cư trú khắp vùng nam sông Dương Tử China tới tận đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, có nhiều đặc điểm giống nhau về nhân chủng và văn hoá, có cùng tên gọi kết hợp với hậu tố "-Việt", như: Mân Việt, Điền Việt, Âu Việt, Lạc Việt... Người Việt ở Việt Nam ngày nay chính là Lạc Việt khi xưa.
Ngoài ra, người Lạc Việt còn truyền thuyết nói rằng con trai cả của thần Lạc Long Quân và tiên Âu Cơ lên ngôi làm vị vua đầu tiên, đặt tên nước là Văn Lang, lấy hiệu là "vua Hùng". Vua Hùng là vua tổ tiên của người Lạc Việt. Điều này chỉ có nghĩa truyền thuyết cổ xưa của người Lạc Việt nhận mình là anh cả của Bách Việt. Mô-típ tự tôn dân tộc này xuất hiện ở hầu hết các dân tộc trên thế giới. Không thể dựa vào truyền thuyết này để làm căn cứ xác nhận chính xác sự tồn tại của vị vua Hùng thứ nhất là con của thần Lạc Long Quân như một sự thật lịch sử khách quan.
Tuy nhiên, xét theo khía cạnh chủ đạo dân tộc, chúng ta tin truyền thuyết về tổ tiên của mình. Dân tộc Việt được sinh ra từ một cuộc hôn phối kỳ diệu giữa sức mạnh và vẻ đẹp, giữa đại dương và đất liền, giữa nông nghiệp và ngư nghiệp... Truyền thuyết, chỉ cần tới chỗ này là đỉnh điểm, không cần thêm thắt về các đời ông đời cha của Quốc Tổ và Quốc Mẫu làm chi. Thật hết sức nhảm nhí khi mà diễn tả cho bọn trẻ về tổ tiên của dân tộc là Rồng và Tiên, Quốc Tổ là rồng thần dưới biển, Quốc Mẫu là chim tiên trên núi, rồi lại dẫn giải lê thê nào Đế Minh Đế Nghi nào Đế Lai Lộc Tục, rốt cuộc dẫn tới ngọn nguồn tiên tổ của chúng ta là một vị vua trong truyền thuyết của China (aka. Viêm đế Thần Nông), thực là điều kỳ cục của sử cũ! (xem Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lê Văn Hưu, phần Ngoại Kỷ; xem Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Quốc sử quán - triều Nguyễn, phần Tiền Biên, quyển I)
2. Vậy thì thời đại vua Hùng là sao?
Một dân tộc có vĩ đại hay không, không nằm ở lịch sử dài hay ngắn. Những đất nước có lịch sử lâu đời như Ai Cập hay Hy Lạp... trong hiện tại đều không có gì đáng tự hào, thậm chí họ còn phải đáng thẹn với bề dày lịch sử của mình. Ngược lại, Hoa Kỳ mới chỉ lập quốc mấy trăm năm, mà luôn đứng đầu thế giới về kinh tế và sức mạnh quân sự. Đời sống người dân và tiềm lực quốc gia trong hiện tại mới chính là điều mà người dân nên lấy làm vui. Lịch sử nhiều ngàn năm, cùng lắm chỉ là những phế tích và sẽ mục nát với thời gian. Luân lý dân tộc được từng người dân tôn trọng và làm theo, già trẻ bé lớn đều cư xử tốt với nhau, cộng đồng có niềm tin và có chủ đạo, đó mới là điều đáng tự hào, dù lịch sử có non trẻ đến mấy. Ngược lại, nhận nước mình có bốn ngàn năm văn hiến, trong khi đó người dân mơ hồ hoặc hoàn toàn mù tịt về chủ đạo dân tộc, cả nước mê tín lú lẫn, thì thà không có lịch sử còn hơn!
Về thời đại vua Hùng, không thể dựa vào tư liệu sách vở khi nói mười tám đời vua Hùng cai trị hai ngàn sáu trăm sáu mươi hai năm, mỗi vua cai trị hơn trăm năm mươi năm, như vậy quá vô lý. Nhưng chúng ta không có bản văn nào khác, vì thế, hãy tạm thời để đấy, và lật ngược lại sử sách. Tới thời vua Thục Phán đánh Văn Lang và lập nước Âu Lạc là tương đối gần với lịch sử, năm 267 TCN. Di chỉ thành Ốc và tên đồng đã khai quật được, xác nhận sự tồn tại lịch sử của vua Thục Phán. Như vậy, trước vua Thục là vua Hùng cuối cùng, ta có cơ sở để xác định điều này. Vậy vua Hùng đầu tiên cách đó bao lâu? (sách đã trích, như trên)
Con số 18, nếu xét theo triết học Đông Á, nó là một huyền số, là hai lần 9. Số 9 tượng trưng cho quẻ Kiền. Hai lần 9 tức hai quẻ Kiền chồng lên nhau, được quẻ Thuần Kiền là quẻ đầu tiên trong kinh Dịch. Kiền là Trời, là ngôi chí tôn, có đức lớn, là Cha, sinh ra muôn vật, là hình tượng Rồng... (xem Kinh Dịch, bản dịch Ngô Tất Tố, quẻ Kiền). Chính vì thế, rất có thể cách nói "mười tám đời vua Hùng" chỉ là cách nói bóng bảy mang nhiều hàm nghĩa, hơn là con số thực tế.
Trong các truyện thần thoại: Thánh Gióng, An Tiêm, Bánh Chưng Bánh Dày, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh, Trầu Cau... Đều có bối cảnh là trong triều đại của một vua Hùng nào đó, các yếu tố giải thích thiên nhiên còn hỗn mang (Sơn Tinh - Thuỷ Tinh), sự hình thành tục lệ (Trầu Cau, Bánh Chưng Bánh Dày), chiến tranh vệ quốc(Thánh Gióng). Riêng truyện Thánh Gióng có một chi tiết khá thú vị là có nói khi này là thời Hùng Vương thứ 6 và giặc Ân đánh nước ta. Khảo cổ học hiện đại đã xác định lịch sử China đến thời Ân-Thương, niên đại từ năm 1766 - 1122 TCN. Trong kinh Dịch còn có quẻ Ký Tế có nói về việc vua Cao Tôn (1324 - 1264 TCN) nhà Ân đi đánh nước Xích Quỷ, tức nước ta theo cách gọi của người China thời đó, đánh ba năm khó nhọc mà không được gì. Nếu quả thật truyện Thánh Gióng là ký ức dân tộc, thì ta có: vua Hùng thứ 6 vào khoảng năm 1324 - 1264 TCN. Tất nhiên, đây chỉ là con số tham khảo cho vui. Cũng như các sách China chép việc người nước ta sang phương Bắc lạy lục triều cống rùa thần và chim trĩ vào các thời Đường Nghiêu (2357-2258 TCN) và năm 1110 TCN thời nhà Chu (*). Sự việc quá cổ xưa, còn sử sách lại viết sau mấy ngàn năm, không đáng tin.
Nếu ta lấy mốc vua Thục Phán trở về trước, thì thời đại vua Hùng trùng với thời đại Đông Sơn. Khi này, dựa vào các hiện vật khảo cổ, có thể thấy người Việt đã có thành tựu văn hoá khá rực rỡ, đời sống vật chất và tinh thần đều phong phú.
Trở lại với lập trường ban đầu của bài viết này, nếu ta xác định việc vua Hùng thứ nhất là thần thoại (con trai cả của Rồng và Tiên), thì về thời đại vua Hùng thực sự, ta có các giả thiết:
- có nhiều vua lấy hiệu là "Hùng" hơn con số 18
- có một vua triều đại tiền sử tự nhận là con của cha Rồng và mẹ Tiên; Rồng và Chim chính là totem vật tổ của dân tộc này (aka. Lạc Việt, Rồng có thể là Cá Sấu); vị vua này xưng là vua Hùng
- thời vua Hùng kết thúc khi bị Thục Phán đánh chiếm, nhưng có thể bắt đầu muộn hơn năm 2879 TCN mà sách vở đã ghi
- các chi tiết: ăn trầu, xăm mình, trồng lúa, bắt cá, làm bánh chưng bánh dày, chế thuyền đi biển... trong các truyền thuyết kể trên đều có thật
Vậy thì, khi kể lại huyền thoại hình thành dân tộc, trước tiên cần phải chuẩn hoá câu chuyện Quốc Tổ Quốc Mẫu, bỏ đi đoạn rườm rà từ cha của Quốc Tổ trở về trước. Một cách đơn giản hoá: Ngày xửa ngày xưa, Quốc Tổ Lạc Long Quân là rồng thần dưới biển, gặp Quốc Mẫu là chim tiên trên núi, hai người kết hôn với nhau và sinh được một bọc trứng, nở ra một trăm con trai. Sau đó, để mở mang bờ cõi, Quốc Tổ dẫn năm mươi con đi về vùng biển, năm mươi người còn lại theo Quốc Mẫu lên vùng núi. Những người con lại toả đi khắp nơi, mỗi người phát triển thành một chi tộc Việt. Người con trai cả đi theo mẹ, phát triển thành tộc Lạc Việt, rồi ông lên ngôi vua, lập nước Văn Lang, xưng là vua Hùng, dạy dân các phương pháp cày cấy, tổ chức triều chính, đặt ra văn hiến, đời đời truyền ngôi cho người tài giỏi, đều lấy hiệu là vua Hùng, đất nước hưng thịnh mấy nghìn năm, Lạc Việt phát triển thành một dân tộc lớn đông đúc, lập ra đạo Mẫu để tôn thờ Quốc Mẫu Âu Cơ. Cùng lúc đó người Âu Việt cũng phát triển hùng mạnh ở phía Tây. Đến khi vua Âu Việt là Thục Phán thấy tiềm lực nước mình đủ mạnh, thì xua quân đánh vua Hùng và chiếm được nước, lập ra nước mới, gọi là Âu Lạc.
Thời đại vua Hùng là thời đại chuyển giao giữa huyền thoại và chính sử, không nên minh nhiên khẳng định tính xác thực dựa vào những sử sách mà chính những sử sách này cũng không đáng tin, cũng không nên hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của nền văn hoá Lạc Việt tiền Bắc thuộc mà những di chỉ và hiện vật vẫn sờ sờ ra đó. Chúng ta có quyền tin tưởng vào một thời kỳ lịch sử phát triển rực rỡ của tổ tiên, cũng như có quyền từ khước và bài bác những thứ hổ lốn tô vẽ tuỳ tiện vào lịch sử.
3. Thay lời kết
Trong tác phẩm "Betonamu kara kangaeru" của mình, Shiba Ryotaro (1923-1996) - một tác gia trứ danh và chính thống của Nhật Bản - từng nhận định: "Những nước Á châu, nếu muốn ổn định phải có một 'Nhà nước dân tộc chủ nghĩa'." (từ gốc: "minzokushugi kokka", xem sách trang 93)(**).
Trên thực tế, có thể dễ dàng nhìn thấy rất nhiều nhà nước thể hiện dân-tộc-tính rất đậm nét ở châu Á. Có vẻ như nhận định của Shiba Ryotaro đúng. Nhưng còn trường hợp Việt Nam và China hiện tại, với nhà nước lấy chủ nghĩa cộng sản làm kim chỉ nam, một thứ chủ nghĩa ngoại lai và phủ nhận tính dân tộc, những nước này có thực sự là đang hưng thịnh và ổn định một cách chân thực?
Nhiều năm trước, những người cộng sản ở hai nước này cho rằng những gì mang tính dân tộc đều là phản động và cần phải bị bài xích cực đoan, thậm chí tiêu diệt. Cuộc cách mạng văn hoá ở China là đỉnh điểm cho thái độ này. Tại Việt Nam, sự bài xích văn hoá dân tộc thời điểm đó tuy chưa rầm rộ bằng China, nhưng sự sắt máu và khắc nghiệt không hề kém cạnh.
Ngày nay, khi nhận thấy việc huỷ diệt tính dân tộc là một hành vi tự sát, cộng sản bắt đầu nỗ lực tô vẽ trở lại một thứ văn hoá dân tộc với "định hướng xã hội chủ nghĩa". Và tất nhiên, sản phẩm có cái đuôi ngốc nghếch đó chẳng ra làm sao cả, bởi một lý do giản đơn là không ai biết chủ nghĩa đó cụ thể là cái quái gì, một ông có bằng Tấn sỹ Xây dựng Đảng (cộng sản) và chức tước rất cao cũng chẳng hình dung nổi chủ nghĩa xã hội là sao, phải ngậm ngùi tuyên bố "đến cuối thế kỷ này không biết chủ nghĩa xã hội xuất hiện ở Việt Nam chưa?" (xem báo Tuổi Trẻ online, tại link).
Tán hươu tán vượn ra ngoài lề như vậy, để thấy ngay cả một thứ chủ nghĩa phủ nhận các giá trị quốc gia dân tộc, mà còn phải lần mò quay về tìm hiểu và chắp vá theo hướng đầu cơ có lợi cho mình. Vậy thì, những người Việt chân chính và phi cộng sản, càng phải hiểu rõ chủ đạo của dân tộc mình, ngõ hầu góp sức bảo tồn và truyền lại các giá trị đó cho mai sau, có khi còn giúp ích cho đất nước.
(*) xem Cương Mục Tiền Biên, Kim Lý Tường; Thông Chí, Trịnh Tiều; Sử Ký, Tư Mã Thiên...
_(**) Suy nghĩ từ Việt Nam, Shiba Ryotaro
Mình là Tư, và mình vừa ddo xong 737 tập One Piece, trong vòng hơn 6 tháng. Nói chung là người Nhật rất giỏi trong việc gói gém các giá trị đạo đức trong các seri manga của mình, và mình nhận thấy rằng, hành trình đi tìm One Piece cũng khá giống như hành trình phát triển của một developer hay một startup bây giờ.
Dưới đây là các nhân vật có trong băng mũ rơm:
Zoro trước kia là thợ săn hải tặc, làm hải tặc với mong muốn là trở thành kiếm sĩ giỏi nhất.
Usopp chuyên bắn tỉa, muốn hoàn thành ước mơ hải tặc của cha mình
Brook, bộ xương, là nhạc công kiêm kiếm sĩ
Luffy sở trường lãnh đạn
Robin nhà sử học, với mong muốn đi tìm kỷ nguyên bị đánh cắp
Chopper bác sĩ
Nami là hoa tiêu, người hám tiền nhất băng
Franky, người máy, thợ đóng thuyền với style rất biến thái, mặc mỗi cái quần sịp
Sanji, đầu bếp, được mệnh danh là chân sắt và rất ưu ái phụ nữ, giống mình vậy
“Going Merry" là chiếc thuyền đầu tiên của băng hải mặc mũ rơm, “Thousand sunny” là tên chiếc thuyền thứ 2, kiên cố hơn, nhiều tính năng hơn, do chính Franky một thành viên của bằng đóng, anh ta đóng chiếc thuyền đó vì chính ước mơ của mình, và cũng nhờ đó mà trở thành thợ đóng thuyền cho băng.
Kẻ muốn người không, cơ duyên trời định
Ở trên chiếc Going Merry không phải ai ban đầu cũng muốn trở thành hải tặc, có người sinh ra đã muốn làm hải tặc, có kẻ bị ép phải lên, có kẻ bị xúi lên, có người lên để thực hiện ước mơ riêng của mình, âu cũng là cái duyên.
Lần đầu tiên ra biển lớn các thành viên cũng đôi lúc như ếch vừa mới chui ra khỏi miệng giếng vậy, tự mãn. Như Zoro, không lượng được sức mình, đã bị Mihawk đánh cho bán sống bán chết. Nhưng cũng nhờ những sai lầm như vậy con người ta mới biết rằng, cuộc sống luôn vượt ra ngoài sự tưởng tượng của bản thân, mà từ đó cố gắng hơn.
Tình yêu, thử thách khiến con người ta thay đổi
Luffy không phải là một người giỏi lãnh đạo, có thể nói anh ta là một kẻ chả biết gì, sở trường duy nhất của Luffy chính là lãnh đạn, kẻ luôn chạy trước, kẻ đầu tiền bị ăn đập, kẻ luôn vì các thành viên trong team, chính nhờ vậy anh được tôn trọng nhất.
Nami là một người hám tiền nhất băng, nhưng cũng chính cô là người đưa ra ý định dùng toàn bộ số tiền mà băng có để cứu người cá đang bị bán đấu giá ở Sabaody, chính nhờ hành trình đi tìm One Piece đó mà các thành viên trưởng thành theo năm tháng. Nhận ra được đâu mới là giá trị đích thực cho cuộc sống của mình.
Sabaody, bước ngoặc
Cột mốc quan trọng nhất của băng mũ rơm, đó chính là ở Sabaody, nơi mà các thành viên nhận ra sự yếu đuối của bản thân, Sabaody là một hòn đảo nằm trước Redline, rành lăn giữa trắng và đen, một bên là vùng biển dưới sự quản lý của chính quyền thế giới, một bên gọi là tân thế giới dưới dự kiểm soát của tứ hoàng, những hải tặc trùm sò.
Nơi đây tất cả các thành viên đã bị đánh bại, khi đứng trước sự mất mát của bạn bè, họ nhận thấy sự kém cỏi của bản thân, cũng chính vì lý do đó, họ đã phải xa nhau để học hỏi, khổ luyện trong vòng 2 năm trời, thậm chí phải học từ kẻ thù/đối thủ của mình, để trở nên hoàn thiện, cả về suy nghĩ lẫn kỹ năng, để từ đó mới đủ tầm mà bước vào tân thế giới.
Một hành trình mới bắt đầu…
Kết luận
Mặc dù, ban đầu mỗi người có một mục tiêu riêng, nhưng cũng chính những ước mơ riêng đó đã gắn kết họ lại với nhau, họ đều tìm thấy cho mình các vị trí mà ở đó họ có thể hoàn thành tốt công việc, một team tốt là một team có thể hỗ trợ nhau, băng hải tặc mũ rơm là một team như vậy.
Cuộc sống luôn ẩn giấu nhiều điều bất ngờ, trái ngọt không thể sản sinh trong ngày một ngày hai, mà phải trải qua biết bao mùa mưa nắng, thành công cũng vậy, bạn không cần phải tìm nó, thành công sẽ tự tìm đến bạn khi nào bạn đủ xứng đáng.
P/s: Viết lại một nửa chặng đường của hành trình đi tìm One Piece, cũng để nhắc mình nhớ về hành trình đi tìm sự trưởng thành của bản thân mình vậy. Sống chậm lại, hào sảng lên, cho đi nhiều hơn và làm tốt công việc của mình.
Bạn có thể bán cuộc sống cho tôi với giá bao nhiêu?
Link thảo luận:
Chúng ta không muốn cuộc sống của mình trở nên nhàm chán, đơn điệu, tẻ nhạt và tầm thường. Và vì thế, chúng ta đi tìm giá trị sự tồn tại của mình trong cuộc đời. Hầu hết chúng ta đều hỏi: Đâu là ý nghĩa của cuộc sống này? Mặc dù rất ít người tìm ra được giá trị của sống, nhưng đa phần đều tin rằng sự tồn tại của mỗi con người đều có một ý nghĩa nào đó. Và khi không tìm ra được ý nghĩa của đời sống mình, chúng ta nương nhờ vào tôn giáo, hay các hoạt động xã hội, các đảng phái chính trị. Chúng ta chạy tới các tổ chức đó đơn giản là vì không muốn sống một cuộc sống tầm thường, đúng chứ? Hay giản lược là chúng ta muốn chết trong một ý nghĩa nào đó.
Sống tự bản chất nó là gì?
Có lẽ đối với hầu hết chúng ta, sống mà không ước mơ, lý tưởng, mục đích, không niềm tin là sống tầm thường, sống tẻ nhạt. Và để cho cuộc sống không diễn ra tầm thường và tẻ nhạt, để cho cái chết không bị quên lãng chúng ta khoác cho cuộc sống những chiếc áo đó. Một người chết vì ước mơ sẽ được hàng vạn người đang ước mơ tôn vinh vì họ cho đó là cuộc sống ý nghĩa, và sẽ lấy đó làm tấm gương. Một người chết vì lý tưởng sẽ được hàng triệu người sống theo chủ nghĩa lý tưởng ngợi ca, và cũng sẽ trở thành hình mẫu cho những tín đồ sống lý tưởng. Một người sống chết vì niềm tin sẽ được phong thánh, và được các tín đồ tồn thờ, bắt chước. Vân, vân. Hầu hết, cuộc sống mà chúng ta gọi là ý nghĩa đang diễn ra như thế, đúng chứ? Và bởi vì cuộc sống của ai đó mà không có ước mơ, mục đích, lý tưởng hay niềm tin thì sẽ bị coi là cuộc sống tầm thường và tẻ nhạt. Như vậy, đối với hầu hết chúng ta sống tự thân nó không có ý nghĩa nào hết.
Có thật, tự bản chất cuộc sống không có ý nghĩa gì nếu không có những chiếc áo của ước mơ, lý tưởng hay niềm tin khoác lên? Hay tự thân nó, sống đã là một ý nghĩa tròn đầy, một ý nghĩa tổng thể? Nếu sống đã là ý nghĩa thì câu hỏi là: sống này là gì? Sống này phải chăng là cố gắng duy trì sự tồn tại thể lý càng lâu càng tốt? Hay sống này là cố gắng thoả mãn tối đa các dục vọng của cái tôi?
Sống là liên hệ
Đối với tôi tự bản chất sống đã là ý nghĩa, ý nghĩa trọn vẹn nhất. Nhưng sống không phải là chứng tỏ uy quyền của bản ngã lên người khác, lên thế giới. Sống cũng không phải là tranh đấu để duy trì sự tồn tại của thân xác. Sống là liên hệ, và liên hệ là sống.
Liên hệ ở đây không bó buộc trong các khuôn mẫu được quy định như chủ nghĩa quốc gia, chủng tộc, giai cấp, hay bất kỳ niềm tin tôn giáo nào. Nếu sống là liên hệ theo một khuôn mẫu bị quy định, thì nó có sự phân chia, phân biệt, như vậy đó không là sống. Sống như vậy chỉ tạo thêm xung đột, chiến tranh, đau khổ. Và là một hình thức thể hiện và áp đặt cái tôi của mình lên người khác.
Trong hầu hết chúng ta đều đang phân chia khi liên hệ. Người theo chủ nghĩa quốc gia thì phân chia dựa trên chủ nghĩa quốc gia. Người theo chủ nghĩa vô thần thì phân chia người hữu thần. Người hồi giáo phân chia với người tôn giáo khác. Người theo chủ nghĩa giai cấp thì phân chia giai cấp. Chính sự phân chia này tạo ra xung đột, tạo ra chiến tranh. Người cộng sản phân chia với tư sản, nên có chiến tranh giai cấp. Người hồi giáo phân chia với người kito giáo, phật giáo nên có xung đột tôn giáo. Người quốc gia phân chia quốc gia nên có xung đột giữa các quốc gia. Sống liên hệ là không lệ thuộc, không phân chia, không tích luỹ. Sống là trọn vẹn, tổng thể trong từng khoảnh khắc.
Liên hệ là yêu thương
Sống liên hệ thật sự là có yêu thương. Yêu thương thì không có phân chia, không có xung đột, không có lệ thuộc. Sống yêu thương là toàn bộ ý nghĩa thật sự. Như vậy có thể nói, ý nghĩa của sống là yêu thương, yêu thương là sống. Nhưng bởi vì hầu hết chúng ta đều không biết yêu thương thật sự, không biết liên hệ thật sự, nên chúng ta mới đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống. Yêu thương ở ngay bên bạn, trong bạn, là bạn thế mà bạn lại còn đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống, giá trị cho cuộc sống. Khi đi tìm ý nghĩa cuộc sống, bạn đang tìm cái gì đó ngoài bạn, bạn đang liên hệ cái gì đó mà không có yêu thương. Và bất kỳ ai đang đi tìm ý nghĩa cuộc sống, đều đang không sống.
Nếu con chim đi tìm ý nghĩa cho tiếng hót của mình, nó sẽ ngừng hót. Chim không hót thì không còn ý nghĩa của sống. Tiếng hót của nó là ý nghĩa lớn nhất cho cuộc sống của nó, nó lại đi tìm ý nghĩa cho tiếng hót thì nó đang chối bỏ chính ý nghĩa của sống rồi. Nếu bông hoa đi tìm ý nghĩa cho vẻ đẹp, mùi thơm của nó, nó sẽ ngừng đẹp và toả hương thơm. Chính vẻ đẹp và hương thơm của nó là ý nghĩa cho toàn bộ đời sống của nó trong liên hệ với thế giới, nhưng nó lại muốn đi tìm ý nghĩa cho những điều đó, vậy là nó không còn sống trong toàn thể đời sống của nó. Và khi chúng ta, chúng ta đi tìm cho mình ý nghĩa của sống là gì, chúng ta sẽ ngừng ngay việc sống. Tôi không nói đến việc chết khi bạn đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, tôi nói đến việc bạn sẽ không đang sống. Bạn đi tim ý nghĩa cho việc sống, bạn sẽ phải lo lắng, sợ hãi, bồn chồn, hoang mang, rồi tích luỹ, phân chia, loài trừ. Tất cả những thứ đó khiến bạn không có liên hệ thật sự. Và điều đó cướp đi cuộc sống thật sự của bạn. Sống là yêu thương ngay lúc này, ngay bây giờ mà không tích luỹ, không lệ thuộc. Yêu thương không theo bất kỳ một khuôn mẫu nào, chuẩn mực nào. Đó là toàn thể ý nghĩa của sống. Nhưng hầu hết chúng ta đều thấy sống như vậy thật trống không. Sống trọn vẹn khoảnh khắc qua khoảnh khắc như vậy không hề phù hợp với những gì chúng ta được dạy bảo và tích luỹ từ sách vở. Và vì thế chúng ta trốn chạy sống và nương nhờ vào cái gọi là ước mơ, lý tưởng hay niềm tin.
Cuộc sống không phải là để mua bán
Tôi có thể mua cuộc sống của bạn giá bao nhiêu, để bạn có được ý nghĩa cuộc sống? Tôi nghĩ, hầu hết chúng ta đều đang làm những giao dịch này trong cuộc đời chỉ để hy vọng cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa. Những người theo chủ nghĩa quốc gia sẵn sàng chết cho đất nước, mà không quan tâm cái chết đó có thật sự mang lại hoà bình cho đất nước của họ, chỉ vì họ tin rằng đó là cái chết có ý nghĩa. Những tín đồ hồi giáo cực đoan sẵn sàng kích nổ bom khi đang mang trên mình mà không hề chắc chắn điều đó có mang lại niềm tự hào cho Ala, chỉ vì tin rằng đó là cái chết của những vị thánh tử đạo. Những tên cuồng chủ nghĩa cộng sản sẵn sàng giết và chết vì cái lý tưởng cộng sản mà đếch quan tâm nó đúng hay sai, chỉ vì tin rằng đó là cái chết đầy tự hào vì lý tưởng. Vân vân.
Nếu bạn truy xét đến cùng tất cả những xung đột đã và đang xảy ra trên thế giới này, bạn sẽ nhận ra liên hệ giữa sự sống, ý nghĩa của đời sống, và chết. Đó là toàn bộ giao dịch của sống chúng ta. Chúng ta đang bán cuộc sống của mình cho những ước mơ, lý tưởng, niềm tin của người khác chỉ với hy vọng nó sẽ mang lại ý nghĩa sống cho mình. Và thật thê thảm cho thế giới khi nó phải oằn mình chứng kiến và chịu đựng sự tàn phá từ sự ngu ngốc này của con người. Sống tự bản thân nó tràn đầy ý nghĩa, thế mà bạn lại đi bán đi ý nghĩa đó cho những niềm tin, lý tưởng, mục đích mà người khác áp đặt để tìm một ý nghĩa khác.
Để tôi nói bạn nghe: Phật, Jesus là những người sống trọn vẹn nhất ý nghĩa của sống. Nhưng khi bạn bắt chước họ qua những ràng buộc và luật lệ, bạn sẽ đánh mất đi ý nghĩa của sống. Xin bạn đừng hiểu nhầm rằng Phật và Jesus đang lừa dối bạn, cướp đi cuộc sống thật sự của bạn. Thưa bạn, Họ không hề lừa bạn, cướp đi ý nghĩa sống của bạn. Ngược lại họ là những con người thật tâm nhất muốn bạn có cuộc sống tràn đầy ý nghĩa như những con người chứng ngộ. Thực ra, những con người tạo ra những ràng buộc, những luật lệ quanh Phật và Jesus và bảo bạn làm những điều đó, sống chết vì những điều đó mới là đang lừa dối bạn. Và khi bạn phục tùng những con người đó, trao cuộc sống của bạn cho họ, bạn cũng mất luôn ý nghĩa của việc sống thật sự. Bởi thể, tôi nói bạn nghe: cuộc sống không phải là một giao dịch mua bán.
Bạn sẽ khó chấp nhận điều này, tôi nghĩ hầu hết chúng ta đều không thể chấp nhận sống mà không có ước mơ, lý tưởng và niềm tin. Sống như vậy thật vô định, thật tầm thường và khó chịu. Tôi không mời gọi bạn chống lại ý tưởng, ước mơ, lý tưởng hay bất kỳ niềm tin nào. Bởi có xung đột là không có liên hệ, có nghĩa là không yêu thương, không sống. Tôi viết ra những điều này mời gọi bạn hiểu rõ toàn bộ đời sống của bạn. Hiểu rõ toàn bộ đời sống là hiểu rõ toàn bộ liên hệ bạn có với thế giới. Liện hệ với người khác, với tài sản, với ý tưởng của bạn. Hiểu rõ toàn bộ quy trình này, khi đó bạn sẽ sống ước mơ, lý tưởng và niềm tin mà không phân chia, xung đột với những điều khác biệt, cũng như không lệ thuộc vào chính niềm tin, ước mơ, lý tưởng bạn đang sống.
Những người tôi đã gặp 2: “Trong Vũng Nước Cuộc Đời”
Link thảo luận:
Featured Image: Pixabay
1. Một em bé bán vé số khác
Chiều nắng rát da, không khí hanh khô và trời đứng gió. Hạn hán gì mà khủng khiếp. Tôi ngồi hút thuốc trong quán quen, thả hồn thờ thẫn trên ngọn cây để giải toả đi những mệt mỏi căng thẳng của một ngày dài lao động bình dân. Hơn bốn giờ rồi, mặt trời vẫn còn chói chang, cao chót vót trên cả nóc của những căn nhà đối diện đường, ánh sáng xiên làm tôi thấy rất khó chịu và mỏi mắt. Một thằng nhóc chợt từ đâu nhảy xổ ra trước tôi, gương mặt đỏ bừng, mồ hôi chảy thành dòng ròng ròng trên mặt, tóc và bụi đất đen bết lại trên trán. Nó vụt ra trước mặt tôi một xấp vé số dày cộm, chắc khoảng hơn một trăm tờ, lí nhí gì đó không nghe được. Tôi lắc đầu theo thói quen, nó chợt oà khóc rồi ngồi phịch xuống đất nức nở... Tôi thấy xót trong lòng lắm, nhưng nếu mua hết vé số cho nó thì tôi không có khả năng. Nó biết sẽ chẳng ai làm thế, vì giờ đó đã xổ số gần xong rồi. Có lẽ sẽ có nhiều người tốt bụng, gặp trường hợp như thế thì cho thằng nhóc chút tiền và rồi họ thấy nhẹ nhõm hoặc vui vì đã làm được việc tốt dù chẳng thay đổi được gì.
Thằng nhóc cũng khá mạnh mẽ, khóc chừng vài chục giây, liền đứng dậy chạy đi. Có mấy người trong quán kêu nó lại mua một hai tờ, rồi thôi... Có thể nó đang tuyệt vọng, nhưng chắc chắn nó sẽ không chết vì xấp vé số này. Cuộc sống khắc nghiệt như thế đó, và bài học nào cũng rất đắt giá, chỉ như vậy, chúng ta mới lớn khôn.
Tôi đi theo sau lưng thằng nhóc, nó ngồi trong công viên, tay bóp chặt nắm vé số, gương mặt đờ đẫn... Một người đàn bà son phấn loè loẹt tiến tới nhìn xấp vé số rồi la hoảng: "Trời ơi! Chết! Chết rồi!" Thằng nhỏ khóc oà, vừa khóc vừa nói: "Mẹ ơi con xin lỗi, tại con ghé hội sách..."
...
Tôi hỏi thăm thì biết, thằng nhỏ không cha, mẹ nó làm cave và thường "đứng" trong công viên này. Lúc nhỏ nó được gởi trong trường bà phước nên biết đọc chữ chứ không có đi học trường nhà nước. Mẹ nó lãnh vé số cho nó bán để phụ thêm tiền mua thuốc cho bà ngoại nó uống. Hơn trăm tờ số ế nghĩa là hơn một triệu bạc thành giấy lộn, đúng là thảm hoạ!
...
Một cách nào đó, người chủ đại lý vé số đồng ý cho nó nợ số tiền kia và cho "trả góp" mỗi ngày mười ngàn, nhưng mỗi buổi chỉ còn cho nó lãnh vé ít lại một nửa, để dành thời gian... đi học. Có một nhóm thanh niên tốt bụng đã dạy lại cho nó những kiến thức căn bản và giới thiệu nó cho một quỹ học bổng đặc biệt để nó được tới trường như những đứa khác.
Chiều hôm ấy, có lẽ thằng nhóc chỉ tuyệt vọng trông chờ một phép lạ để cứu nó, nhưng không có phép lạ nào xảy ra cả. Sau đó, mẹ nó vẫn làm cave, bà nó vẫn bệnh, nhưng tôi thấy có một tia sáng đã loé lên trong mắt họ, họ vẫn ở trong đường hầm nhưng bắt đầu có hy vọng về một ngày tươi sáng...
2. Mười ba năm tuổi đảng
Nhậu với một anh bạn, đang làm việc cho nhà nước, rượu vào lời ra. Mình kiếm chuyện chọc:
- Mười ba năm anh theo đảng, anh thủ đắc được gì về vật chất và tinh thần, nói cho anh em nghe chơi?! Em thấy người ta vô đảng rần rần thấy thích quá!
Ảnh nốc ly rượu cái ực, rồi trợn mắt nhìn mình dò xét:
- Hỏi chơi hỏi thiệt mậy? Bộ muốn theo nữa hả?
- Dạ, em thấy giờ làm cái giống đách gì mà có đảng tịch là ngon, làm cha thiên hạ, không ai dám đụng tới, mà con đường nào cũng rộng thênh thang!
- Tao lạy mầy, làm ơn làm phước bỏ giùm tao. Mẹ bà, hết chuyện mầy rồi?!
Mình bắt đầu mắc cười trong bụng, mà vẫn giả ngộ:
- Ông này lạ, hỏi đường tiến thân mà cũng không chỉ em út gì hết trọi, nản!
- Đ.m, mày nhìn tao, đảng viên khố rách áo ôm vầy, tiến thân c*c gì mà ham?
Ổng lại uống, rồi nhìn xa xăm, trầm ngâm. Mình thấy có vẻ căng thẳng rồi, nên cũng không giỡn nữa, phân bua:
- Em thấy tánh tình anh tốt, mà đảng thì người ta mặc định là tốt, vậy thì anh phải lên cao và sướng lắm chớ. Em nghĩ vậy nên hỏi thôi, ai dè anh quạu?
- Chỗ tốt thì dành cho con cháu mấy thằng bự, miếng ngon thì dành cho thủ trưởng, họp nội bộ thì như bầy chó cắn lộn, bình thường thì bè phái đấu đá. Làm việc mẫn cán, nai lưng trâu ngựa ra thì suốt đời cho người ta cỡi, còn mắng nhiếc roi vọt kỷ luật các kiểu. Mầy nghĩ tài cáng hay năng lực của mày hơn được vị thế con ông cháu cha sao? Mày cực khổ, mày hy sinh cả đời, tự dưng có thằng ất ơ con ông nào đó từ đâu nhảy ra làm sếp mầy!? Mầy làm mọi cho một thằng, tưởng sẽ được lên, rồi cái mầy phải làm mọi tới đời con đời cháu nó nữa. Đ.m! Sướng hông?
- Anh nói cái gì em nghe rối nùi hết trọi! Hỏng hiểu?
- Tao nói tóm lại vầy, đi theo đảng là 'đang theo đĩ', chấm hết!
...
Câu chuyện càng ngày càng nóng, nói một hồi ông này chửi đảng như hát hay, toàn là chửi tục, cố dùng những từ bẩn thỉu nhất để chửi. Mình không ghi lại, cũng không muốn nhớ, chỉ thấy cuộc đời ông anh bi kịch quá. Sự trung thành gương mẫu hăng hái cuồng nhiệt vì đảng của ảnh trước đây, mình dám cá cỡ cái đám ba trợn mát dây Quang lùn Lệ lé ở Hanoi chưa đáng xách dép cho ảnh. Nhưng ảnh cứ lẹt đẹt, mình nghĩ tương lai hoạn lộ của các bạn dlv cũng chẳng khá hơn mấy đâu, thậm chí còn bi kịch hơn nhiều. Và ai dám phủ nhận việc "cha truyền con nối" hiện nay, kể cả các dlv bẩn nhất cũng phải ngầm ngậm ngùi cho cái thân dê chó của mình, mãi là nô tài thái giám của người ta.
Sự khốn khổ của ông anh rất đáng cảm thông, nhưng sự cam chịu của ổng thì đáng kiếp. "Theo đĩ" mười ba năm, mới một con giáp lẻ một năm thôi mà, nhận ra mình sai rồi làm lại cuộc đời đâu có muộn...
Cuối cuộc nhậu, ổng lè nhè tuyên bố: "Ngài mai, tao bỏ đĩ!" chẳng biết đĩ nào?
3. "Đĩ cũng có đĩ yêu nước"
Trước đây khi ở trọ ở quận XYZ, sát vách phòng trọ tôi là phòng trọ của một chị tự giới thiệu là làm gái. Chị luôn tự hào về nghề của mình, chẳng giấu diếm hay dùng từ gì khác để nói tránh đi. Ngày tôi mới dọn tới, sang chào làm quen và sẵn cho chị mấy trái cam nhà trồng để giao hữu. Chị nghe gõ cửa, mở cửa ra nhìn. Sau mấy phút giây đầu tôi bỡ ngỡ thì sự nhiệt tình của chị làm tôi thấy thân thiết như đã quen biết từ đời ông cố ông sơ nào.
Chị sống về đêm, ban ngày thì ngủ vùi; tôi thì ngược lại, giờ giấc quy củ như thầy tu. Khi đó tôi vừa đi học vừa đi giữ xe ở quán cà phê để có tiền sinh sống, gia đình chỉ cần chu cấp gạo và tiền học phí. Một lần, có lẽ chị nghe tôi kho thịt thơm mùi hành tiêu dân dã, nên dù là đang mười giờ sáng, là giờ ngày thường chị ngủ ngon nhất, chị vẫn lót tót qua chơi, chẳng ý tứ mẹ gì, cứ nằm bừa lên chỗ ngủ của tôi. Rồi chị than:
- Mẹ, bữa nay chị bệnh quá, mày làm phước nấu cho chị gói cháo bịch được hông? Đừng để bịch bột nêm với bịch dầu của nó, cứ để trắng rồi cho chị miếng thịt kho khô luôn nghen.
- Giờ em có mì Hảo Hảo không hà, chị đợi em ra mua chút xíu.
- Ừ đi đi, có tiền hông mày? Qua phòng chị lấy đi!
- Gói cháo bịch có nhiêu đâu, em mua được!
- Ừ, vậy nhanh đi, đói thấy mẹ rồi!
Tính chị ngay thẳng, không quanh co khách sáo, kiểu người miền Nam với máu anh hùng hảo hớn hay hiệp nữ trong tuồng tích. Sau lần đó, chị thường qua phòng tôi ăn cơm. Để sòng phẳng, chị mua gạo và thỉnh thoảng đưa tôi vài trăm để đi chợ. Tôi thì ra công nấu và cũng góp tiền đồ ăn, tất nhiên chị luôn giành trả nhiều hơn. Ngày qua ngày, tôi quý chị như người chị ruột. Chị cũng thương tôi như thằng em thất lạc nay mới tìm lại được. Có đôi lần chị vác bia và vài thứ đồ ăn về để hai chị em nhậu. Tôi không uống được nhiều, chỉ uống một hai lon và ngồi nhìn chị uống, nghe chị kể chuyện đời.
Chị từng học hướng dẫn viên du lịch, tiếng Anh lưu loát, thân hình người mẫu, gương mặt tuyệt đẹp. Khi mới ra trường, ngơ ngáo kiểu gì bị người ta gài làm mồi cho khách vip. Chị đã sợ hãi và bị người ta tiếp tục dùng như một công cụ. Nhưng dần dần, chị khôn lên, lật ngược tình thế và trả được thù. Tôi hỏi sao chị trả thù rồi không nghỉ làm và đi nơi khác sống cuộc đời mới. Chị chỉ cười và nói:
- Muốn hạ bệ một thằng quan chức chó đẻ, cách tốt nhất là nhờ một thằng chó đẻ khác cấp trên của nó. Chị cặp với một tay bự, nó yêu chiều chị đủ thứ, giúp chị rửa hận, cho chị nhiều tiền, giúp cho ba má chị lên đời. Chị làm đĩ từ đó đó em, một con đĩ cao cấp, qua tay nhiều thằng chó đẻ, chó nhỏ thì dâng chị cho chó lớn. Có mấy con chó già, chỉ bóp vú là thôi không làm ăn gì được nữa, vậy mà cũng bày đặt cặp đào đĩ với đời nữa!
- Nhưng mà chị có sống hoài như vậy được không? Mai mốt già rồi sao?
- Biết, mày khỏi lo, chị thấy tính thanh khoản của bản thân sẽ thấp dần, chị đổi giá trị của mình ra đô la và để dành đó. Chung cư chị mày còn không ở, mà ở nhà trọ rẻ tiền vầy mày không thấy sao.
- Thanh khoản là cái gì?
- Mẹ, học tới đại học mà hỏi ngu như con thú vậy?
...
Chị kể tôi nghe nhiều về đời sống bí ẩn của bọn tham quan, về những dự án lớn khủng khiếp, về nợ công, về chuyện tham nhũng, về cách mà chúng nhìn người dân và lính tráng... Chị nói, trước bọn chúng, chị tỏ ra đầu đất như những cái bình hoa vô dụng khác, nên mặc sức mà nghe bọn chúng nói với nhau về những chuyện động trời.
Khi nghe chị giải thích những điều ấy, tôi mới thực sự hiểu được thân phận dân đen cùng đinh, thân phận những đứa sinh viên mang đầy ảo tưởng, thân phận bọn doanh nghiệp hạng trung trở xuống, thân phận mấy anh lính lác... là bi đát và mỏng manh đến mức nào. Lời khuyên của chị tôi luôn nhớ mãi:
- Đi khỏi đất này mới khá nổi mày ơi!
Rồi có lần tôi về quê mấy hôm, trở lên thì thấy phòng chị trống hoác. Chị đã đi không lời từ biệt. Mở khoá cửa phòng mình, tôi thấy dưới đất là một bao thơ được dán cẩn thận, có lẽ thơ của chị nhét vào qua khe cửa. Trong thơ là mấy dòng chữ nắn nót, cùng với hai trăm € và một tấm tiền một trăm đồng của VNCH còn mới tinh. Chị nói cho tiền € cho biết, thích xài gì thì xài, tấm một trăm tiền xưa cứ cất, dặn giữ gìn sức khoẻ, cố gắng học ngoại ngữ và nên sớm tìm cách ra nước ngoài. Không chữ nào nói về chị.
Giờ này, khi viết những dòng này, đã gần ngấp nghé mười năm từ ngày biết chị. Chẳng biết chị đang viết sách ở Tân Tây Lan nơi đủ bốn mùa hoa thơm cỏ lạ, hay đang săn Kangaroo ở Úc Châu dưới trời thênh thang đầy nắng gió? Đó là hai nơi mà chị từng nói muốn tới sống quãng đời mới. Những dự án điên rồ và vô cùng xa xỉ mà chị nói cho tôi nghe trước đây, bây giờ quả thật đã diễn ra sờ sờ trước mắt, nợ công tăng lên gần ba mươi triệu trên một người dân, còn nhiều điều khác nữa đều xảy ra như lời chị nói. Rốt cuộc thì chị là ai, những thông tin về bản thân chị có phần trăm nào là sự thật? Hay, chị là An Tư công chúa?
4. Cô Bí
Khi ấy, tôi còn nhỏ lắm, áng chừng mới lớp hai lớp ba gì đó. Ký ức về cô Bí vụn vỡ như những mảnh ngói phế tích rơi sót lại từ hoàng thành vua Lý Thái Tổ. Tôi nhớ cô Bí thường mặc đồ cũ rách, dường như bất cứ thứ gì che thân được thì với cô đều là y trang rực rỡ, cô phải thấy lộng lẫy và kiều diễm lắm thì mới mặc thường những bộ đồ kỳ quái như vậy. Giờ nhớ lại, mới biết tại cô nghèo khổ quá, ai cho gì mặc nấy, mặc đến cũ nát mới thôi. Lúc nhỏ, thú thực tôi ghét cô Bí, người gì đen thui thùi lùi, lúc nào mặt mũi cũng lấm lem, xương gò má cao nhọn hoắc, tóc thì cắt vuông vức như đàn ông, lại có tên là Bí.
Có một lần, tôi thấy cô vừa đi vừa khóc trên đường lộ. Trời nắng chang chang, con lộ nhựa làm từ thời Cộng Hoà đã bị lở lói nát nhiều chỗ, phần lớn là đá bốn sáu nằm gối lên nhau phơi mình trong nắng trưa, nóng đến mức tưởng chừng để miếng thịt sống lên một chút là sẽ chín. Cô Bí đầu trần, tóc rối loà xoà, áo màu gì không biết nhưng cũ thành màu vàng đất, quần xăn lên khỏi đầu gối, bàn chân trần trụi đen bóng đi lủi thủi trên lộ. Cô khóc, rên la như nhà có ai vừa chết. Tôi hỏi bác Ba Cù có chuyện gì, thì bả nói rằng cô Bí mua chai thuốc sâu hiệu Hai Lúa giá tám ngàn, xịt được nửa chai còn nửa chai thì cất sau nhà, bị ai đó lấy mất, nên khóc đi nghêu ngao vậy. Tôi rất ngạc nhiên và tỏ ra vẻ khi thị:
- Trời ơi có bốn ngàn bạc mà gì dữ vậy?
- Người ta nghèo mày ơi! - bác Ba Cù đáp, trong giọng đầy sự trách móc tôi.
Câu chuyện sau đó thế nào tôi cũng không còn nhớ nữa, nhưng câu nói của bác Ba Cù đọng lại rõ nét trong đầu tôi. Tôi cũng nhớ mang máng lúc đó năm chín mấy, bốn ngàn tuy có giá hơn bây giờ, nhưng cũng không phải nhiều lắm, với bốn ngàn, có thể ăn hai tô hủ tiếu, hoặc uống bốn ly cà phê đá, hoặc mua tám miếng đậu hũ. Nếu tính hạo hạo, thì bốn ngàn khi đó tương đương khoảng hai ba chục ngàn bây giờ. Điều gì khiến người nước tôi trở nên cùng đinh khốn khổ như vầy?
Tôi lớn lên và dần tìm ra được đáp án cho câu hỏi đó. Tôi chợt nhớ về cô Bí và chạy đến nhà cô để xem cuộc sống của cô bây giờ ra sao. Chỉ còn thấy bụi tre và cái hồ cũ, nền nhà cũng đã không còn. Hỏi thì biết, cô và ông chồng say rượu đã bỏ xứ đi tha hương cầu thực nhiều năm, không còn nghe tin tức gì về họ từ lâu lắm.
"vũng nước cuộc đời": lời bài hát Khúc Thuỵ Du của nhạc sĩ Anh Bằng.
"đĩ cũng có đĩ yêu nước": một câu nói trong phim Tế Công của Châu Tinh Trì, US lồng tiếng.
Báo chí là sự kiện, và sự kiện liên quan đến thông tin. Thông tin phải là thông tin đa chiều, và có tính sự kiện. Thông tin có tính sự kiện có nghĩa là chuyện gì đang xảy ra thì phải truyển tải đúng như nó là, không bóp méo, diễn giải một chiều. Thứ hai phải là đa chiều, tức là có cái nhìn tổng thể, không định hướng và không được chủ quan. Bởi vậy, đối với tôi mà nói nghề làm báo là nghề cao quý. Lý do đơn giản là vì người làm báo là người truyền tải sự thật, và hiểu về giá trị của hiện tại hơn ai hết. Báo chí theo một cách nào đó cũng chính là người đang làm công việc giáo dục, và đang tự học hỏi từng ngày.
Thực trạng nền báo chí Việt Nam
(Lưu ý: tôi đang đề cập đến các tờ báo nhận tiền lương từ ngân sách nhà nước.)
Nói về thực trạng báo chí Việt Nam, tôi có ý nói đến câu chuyện về thông tin. Tôi không nói về hệ thống báo chí, sự phân chia cấp bậc trong nghề làm báo. Những thứ đó là ràng buộc, là giả dối và là nhà tù của sự thật.
Thông tin là sự kiện. Sự kiện ông A tham nhũng, ông B lạm quyền, tổ chức, cơ quan này lảng phí, không hiệu quả, vân vân. Như vậy, báo chí khi truyền tải thông tin phải trung thực. Thiếu trung thực là nét đặc thù của nền báo chí Việt Nam.
Tại sao thông tin lại bị bóp méo trong nghề báo ở Việt Nam? Câu trả lời là báo chí là công cụ cho quyền lực chính trị. Cụ thể, toàn thế hệ thống báo chí sau ngày 30/4 đều nằm dưới sự kiểm soát và định hướng Ban Tuyên Giáo, một tổ chức của ĐCSVN.
Khi báo chí là công cụ thì thông tin là thuốc độc. Khi thông tin là thuộc độc thì người đọc là nạn nhân. Nạn nhân của thông tin sai trái sẽ tạo ra những con người vô tâm, vô cảm và ngu muội trước những gì đang xảy ra. Báo chí liên quan đến những vấn đề đang xảy ra trong hiện tại, và khi thông tin bị bóp méo thì hiện tại cũng không có giá trị với người đọc. Ví dụ: báo chí viết về tham nhũng nhưng lại bóp méo về thông tin. Cơ chế độc quyền, độc đảng khiến tham nhũng trở nên quốc nạn thì lại không nêu ra cho người đọc, nhưng lại đổ tội nào là do lối sống tây phương thực dụng, thể lực thù địch tìm cách quấy phá. Khi người đọc tiếp nhận thông tin sai trái, họ cũng sẽ có những phán ứng sai trái.
Báo chí là công cụ thì xã hội sẽ suy tàn. Tại sao? Tương lai của một xã hội cũng giống một con người, chính là do hiện tại vun đắp. Khi người ta có những hành vi sai trái trong hiện tại, thì tương lai sẽ nhận được những kết quả thảm hại. Vì báo chí công cụ đã bóp méo sai trái thông tin của hiện tại, nên những con người trong xã hội đó cũng có những hành vi sai trái. Đừng hy vọng về sự tốt đẹp của xã hội trong một nền báo chí công cụ.
Nói về báo chí Việt Nam thì cũng nên nói đôi chút về độc giả của nó
Sự thật là không phải ai cũng biết về nền báo chí công cụ ở Việt Nam, và vì thế phần lớn người Việt vẫn rất tin tưởng vào các thông tin họ tiếp nhận hàng ngày. Những câu nói như: tại sao tôi không thấy báo chí nhắc tới vấn đề bạn đang nói? Tôi không tin điều bạn nói vì nếu nó có xảy ra thì báo chí đã viết rồi, vân vân.
Nói chung những người đọc đều thiếu khả năng sàn lọc thông tin, không có tính nghi ngờ thông tin họ tiếp nhận. Báo chí viết thế nào thì họ tin như vậy. Nói chuyện với những người mà tin báo chí như tin cha mẹ thế này, đó là một sự phí phạm thời gian. Tại sao phần lớn độc giả Việt Nam lại có tâm lý lệ thuộc báo chí như vậy? Câu trả lời nằm ở chính nền tảng giáo dục họ tiếp nhận. Một nền giáo dục công cụ thì cũng chỉ tạo ra những công cụ cho ai đó mà thôi. Công cụ dù là con người hay thông tin đều có một điểm chung là ngu ngốc.
Các độc giả của báo chí nhà nước phần lớn lại là những người thích đọc các bản tin đâm chém, cướp hiếp, hay các thông tin về đời sống riêng tư của những người nổi tiếng. Điều này phản ánh hai thực trạng trong việc tiếp nhận thông tin của người đọc. Người đọc thiếu chiều sâu về nhận thức nên họ sẽ tiếp nhận các thông tin sôi nổi bên ngoài. Thứ hai, nhận thức về bản thân kém nên họ thích soi mói đến đời sống riêng tư người khác.
Từ báo chí đến độc giả, có thể nói như một trò hề rẻ tiền. Kẻ tung người hứng nhưng lại không nhận ra mình đang làm trò chơi cho những kẻ khác, mà dù biết vẫn thấy vui lòng. Thật không sai khi nói, báo chí đang là một trong những nguyên nhân khiến xã hội này đi xuống. Bởi thế, nhu cầu một nền báo chí tự do cho xã hội Việt Nam là khẩn thiết và gấp gáp hơn cả.
Tự do báo chí
Tự do báo chí không chỉ là quyền tự do ngôn luận, nó còn là quyền truyền tải sự thật. Tôi không nói về sự thật tuyệt đối mà các tôn giáo đang nói tới, tôi nói về sự thật của từng sự kiện đang xảy ra. Tôi nói về thông tin.
Con người ta có hai sự lớn lên, một lớn lên thể lý, hai lớn lên về tinh thần. Thông tin tiếp nhận hàng ngày như thức ăn dành cho thân xác. Một người ăn uống thức ăn độc hại hàng ngày thì mang bệnh vào người là chuyện không thể tránh khỏi. Cũng thế, nếu chúng ta tiếp nhận thông tin sai trái hàng ngày thì chúng ta sẽ có những hành vi sai trái vì nhận thức của chúng ta sai trái qua những thông tin giả dối. Như vậy, tự do báo chí chính là tự do nói lên sự thật như nó là mà xã hội phải đảm bảo an toàn cho họ trước những đe doạ.
Bên cạnh truyền tải sự thật, tự do báo chí còn là quyền tiếp nhận sự thật. Được tự do viết mà cấm đoán người đọc thì không thể có cái gọi là tự do. Độc giả phải có quyền trong việc tiếp nhận thông tin, và truyền tải thông tin đó cho nhau nếu họ thấy cần thiết.
Giáo dục là tương lai của xã hội, báo chí là hiện tại của xã hội. Chỉ cần nhìn vào nền giáo dục của một xã hội, bạn có thể đoán ra tương lai của xã hội đó. Cũng vậy, chỉ cần xem nền báo chí hiện tại của xã hội đó cũng đoán ra thực trạng xã hội đang xảy ra. Không phải xem những gì báo chí đang đề cập, bởi thứ báo chí công cụ sẽ vẽ ra hàng ngàn bánh vẽ đẹp đẽ trong các bài báo của nó. Đó là giả dối. Điều bạn cần làm là quan sát xem cách mà nền báo chí đó vận hành, bởi nó phán ảnh cách mà xã hội này đang là.
Một xã hội không đảm bảo đầy đủ quyền tự do báo chí, thì xã hội đó cũng không tốt đẹp gì hơn nó. Tự do báo chí cũng đồng nghĩa với trách nhiệm, quyền lợi mà công dân đó được hưởng. Một xã hội mà người ta tự do truyền tải và tiếp nhận sự thật, thì ở đó quyền con người của người dân cũng được tôn trọng. Và hơn nữa ý thức trách nhiệm xã hội của họ cũng cao như quyền lợi họ được hưởng. Ví dụ khi báo chí được tự do nói về sự thối nát của nền chính trị, vạch rõ bản chất sự xấu xa của quyền lực tập trung thì ở đó các quyền về chính trị của công dân sẽ không bị xâm phạm, và sự thờ ơ về chính trị của họ cũng sẽ tan biến. Việt Nam thiếu tự do báo chí nên người dân cũng thiếu luôn cái quyền này, và vô cảm trước các vấn nạn quốc gia.
Làm thế nào để có một nền tự do báo chí
Nói tới báo chí là nói tới thông tin. Thông tin được truyền tải qua hai dạng thức cổ điển sau đây: một là được truyền miệng. Loại hình thức này dễ tam sao thất bản, và có tính chủ quan rất nhiều. Xin không đề cập đến việc truyền tải thông tin kiểu này, tôi muốn đề cập đến loại truyền tải thông tin thứ hai.
Hai là được truyền tải qua những bản viết trên giấy, người ta gọi nó báo in. Ngày nay còn có một loại nữa là báo điện tử. Câu hỏi là làm thể nào để có nền báo chí tự do trong in ấn và phát hành trên mạng internet?
Nền báo chí Việt Nam bị cấm đoán nguyên nhân là do thể chế chính trị. Chính thể chế chính trị này đang biến mọi thứ làm công cụ cho nó từ giáo dục, tôn giáo, truyền thống và văn hoá đến báo chí. Vì thế, đừng mong mỏi thể chế này cho phép tự do báo chí, bởi nó tôn trọng quyền tự do báo chí và đảm bảo quyền đó cho công dân thì nó cũng tự tàn sát nó. Cũng giống như giáo dục, chúng ta không thể yêu cầu chính quyền độc tài cho phép tự do hoạt động và bảo vệ các quyền tự do đó, vì nó chẳng khác nào việc bạn yêu cầu họ trao công an và quân đội vào tay bạn. Có lẽ, câu hỏi của chúng ta trong lúc này không phải là làm thế nào để có nền tự do báo chí hợp pháp? Câu hỏi nên là làm thế nào để có thể truyền tải sự thật đến với người dân trong điều kiện xã hội như bây giờ?
Chúng ta không có quyền tự do báo chí điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể truyền tải sự thật đến với người khác. Sự công nhận chẳng qua chỉ là việc làm hiển nhiên của một chính quyền vì dân, do dân. Còn việc truyền tải sự thật lại là điều hiển nhiên nơi mọi con người, không cần đến sự công nhận của bất kỳ thế lực quyền lực nào. Nó hiển nhiên như quyền sống của chúng ta. Vậy phải truyền tải thông tin đến cách nào?
Thứ nhất truyền tải thông tin không phải là tuyên truyền. Chúng có thể làm theo cách giống nhau nhưng mục đích của tuyên truyền là định hướng, dẫn dụ, kích động để đạt tới mục đích nào đó. Còn truyền tải thông tin là truyền tải sự kiện như nó là, không dẫn dụ, định hướng và kích động người đọc. Và người đọc thông minh cũng phải cẩn thận điều này. Ví dụ: bạn thấy một nhóm công an đánh dân. Bạn hãy truyền tải sự kiện đó, truyền tải như nó là. Nếu có thể bạn có thể đi đến cùng sự kiện đó như cách giải quyết sai trái của pháp luật đối với người công an đó như thế nào? Bạn có thể viết dựa vào sự bình đẳng để đánh giá về việc làm đó. Vân vân. Truyền tải sự thật, và khi sự thật đó được truyền tải đầy đủ và khách quan, sự thật đó có khả năng giải thoát. Vậy phải làm thế nào để truyền tải sự thật trong thực trạng cấm đoán như xhvn ngày hôm nay?
Tôi đặt câu hỏi và tôi sẽ không trả lời, vì tôi biết độc giả của THĐP không phải là những cá nhân lười biếng, thích làm những gì được định sẵn. Tôi nghĩ khi chúng ta có câu hỏi thì không sớm thì muộn chúng ta sẽ tìm cho mình được câu trả lời. Hãy là người truyền tải sự thật theo cách của bạn, và hãy tự do làm điều đó đừng vì bất kỳ ai kích động và lôi kéo.
Hành trình của một lao động sang nước ngoài làm việc?
Link thảo luận:
Featured Image: Pixabay
Tiếp nối bài viết “Tại sao lại phải rời bỏ quê hương của mình để ‘tha hương cầu thực’ một cách khổ sở như vậy?” Hôm nay, tôi xin mạn phép tóm tắt lại quá trình của một lao động Việt muốn đi xuất khẩu lao động bên các nước tư bản. Với những nguồn tin đáng tin cậy, và từng có thời gian tiếp xúc lâu dài với một bộ phận những người Việt đã và đang làm việc tại nước ngoài theo con đường 'xuất khẩu lao động', tôi sẽ cố viết thật khách quan và trung thực như những gì đang xảy ra với hy vọng gửi đến cho những ai chưa hiểu rõ về vấn đề này có một cái nhìn chân thật nhất.
Các giấy tờ Pháp Lý
Bất kỳ ai muốn đi lao động nước ngoài đều phải qua giai đoạn này. Ngoài những giấy tờ cần thiết để có thể xuất cảnh như hộ chiếu, visa thì một bộ hồ sơ gồm nhân thân của người lao động do địa phương xác nhận, giấy chứng nhận không tiền án tiền sự do công an tỉnh hay thành phố cấp là điều không thể thiếu. Câu chuyện của những cái hộ chiếu, visa, giấy chứng nhận từ chính quyền đến công an là cả một câu chuyện dài của những chiếc phong bì, những tay môi giới.
Muốn được chính quyền địa phương chứng nhận các giấy tờ, người đi xuất khẩu lao động cần phải đóng các tiền thuế phí chưa hoàn thành từ trước tới nay. Đó là cách chính quyền thu thuế từ người dân. Đương nhiên, ngoài tiền lệ phí bắt buộc phải đóng cho các giấy tờ theo quy định, người làm các thủ tục giấy tờ xuất nhập cảnh muốn thuận lợi, còn phải có một khoản phí khác ngoài tiền thu đã được niêm yết giá. Nó được gọi những cái tên như: tiền cafe, tiền bồi dưỡng, tiền lót đường. Khi hoàn thành các giấy tờ cần thiết để được xuất khẩu, người lao động đến giai đoạn chính của công đoạn đi làm thuê xứ người tại các cty xuất khẩu lao động.
Đường dây môi giới của các trung tâm XKLĐ
"Cò" hay "môi giới" là tên gọi dành cho những người không thuộc nhân viên chính thức của các cty xkld, nhưng họ lại có mối liên hệ rất mật thiết trong đường dây tuyển người của các cty này.
Đường dây môi giới được chia làm hai cấp. Một là môi giới phụ vì họ không trực tiếp làm việc với các cty xkld. Họ chuyên kiếm người và giới thiệu cho môi giới chính.
Hai là môi giới chính, họ là những người liên hệ trực tiếp với các cty xkld, họ không thông qua bất kỳ một môi giới nào. Họ kiếm người và đưa thẳng ra các cty xkld.
Tiền chi phí của các lao động thường cao ngất ngưỡng so với quy định một phần là do phải trả cho các tay môi giới này. Theo nguồn tin từ các lao động đi làm ở Đài Loan: môi giới phụ sẽ nhận được số tiền từ 100-150 USD nếu lao động họ giới thiệu qua được nước ngoài làm việc, đương nhiên là nhận tiền từ môi giới chính. Còn môi giới chính, sẽ nhận được 1.000 USD nếu lao động của người này qua được nước ngoài làm việc, do TTXKLĐ trực tiếp trả. Đó là tiền chi phí dành cho các môi giới trong đường dây xuất khẩu qua Đài Loan với chi phí mà lao động phải trả từ 5.000-6.000 USD. Chắc chắn tiền chi phí phải trả cho các môi giới trong đường dây đưa người đi Hàn Quốc, Nhật Bản phải cao gấp hai, gấp ba lần, vì chi phí để được đi qua HQ, NB mà người lao động phải trả rất cao, thường dao động khoảng từ 10.000-15.000 USD.
Vậy câu hỏi đặt ra là: tại sao các lao động không trực tiếp đến thắng các cty xkld để đăng ký xuất khẩu, mà phải qua các môi giới?
Muốn đi xkld thuận lợi thì cần phải qua môi giới, còn nếu trực tiếp đến các cty thì họ cũng sẽ phân các lao động đó cho các môi giới ở trong đường dây của các cty. Đường nào lao động cũng phải có môi giới. Vậy
tại sao môi giới lại cần thiết như vậy?
Như đã nói môi giới là những người không thuộc biên chế của cty xkld, vì thế nếu có chuyện gì liên quan đến vấn đề pháp lý các cty xkld dễ dàng phủ nhận. Thứ hai, các môi giới là những người làm việc trực tiếp với lao động về tiền bạc, và họ có một nguyên tắc là không ký giấy tờ khi nhận tiền. Đây là đường dây lách luật, cũng như bóc lột, và khéo léo khá tinh vi từ môi giới đến cty xkld.
Sinh hoạt của các lao động ở các TTXKLĐ
Khi lao động đến các cty xkld, việc đầu tiên họ cần làm là đóng tiền học phí và tiền ăn nghỉ cho trung tâm, nếu lao động muốn ngủ lại trung tâm trong thời gian học tập và tuyển việc.
Một cty xkld có ít nhất từ hai trung tâm dạy và tuyển người, và ở mỗi trung tâm xkld thường có ít nhất ba lớp học cho ba đối tượng xuất khẩu: Đài, Hàn và Nhật. Số lượng lao động tập trung ở các trung tâm này luôn dao động từ 40-50 người. Phòng học rộng khoảng 35 m2, và cũng là phòng ngủ, mỗi phòng chen chúc không giới 15 người với cảnh nằm chen chúc chẳng khác nào cảnh sống tỵ nạn. Đóng tiền phòng hàng tháng cho trung tâm nhưng chỗ nghỉ ngơi và sinh hoạt thì tệ chẳng khác nào cái lò gạch của Chí Phèo.
Câu chuyện đơn hàng và tiền chi phí
Theo như tôi được biết các cty môi giới ở Việt Nam luôn cung cấp thiếu, hoặc sai về tình trạng làm ăn của các công cty tuyển người ở nước ngoài. Có nhiều trường hợp ở Việt Nam, cty mối giới bảo lao động qua làm điện tử nhưng khi tới nơi thì lại đi làm hàn xì. Hay bảo đi làm giày dép nhưng lại đi làm công xưởng cắt kiếng, vân vân. Và nữa, các thông tin về độ nguy hiểm, độc hại, cũng như tình trạng làm ăn kém cỏi của các công xưởng ở nước ngoài luôn bị các cty mối giới giấu diếm, và nói ngược. Họ luôn bảo cty bên ấy làm ăn được, phúc lợi tốt, rồi đưa ra vài ba ví dụ về người này người nọ để lừa lao động. Điều họ cần là móc càng nhiều tiền của lao động càng tốt. Hơn nữa họ luôn hét giá thật cao nếu công xưởng ở nước ngoài làm ăn nên và phúc lợi tốt.
Khi lao động đã trúng đơn hàng, họ sẽ phải đi khám sức khoẻ. Câu chuyện đi khám sức khoẻ của lao động cũng có nhiều chuyện để nói. Tiền khám sức khoẻ cũng bị đôn lên khá cao so với quy định, vì phải qua môi giới.
Các lao động nữ khi chụp x-quang, có nhiều trường hợp phải cởi hết áo, không như bên này họ có một chiếc áo chuyên biệt dành cho chị em phụ nữ.
Khi đã trúng đơn hàng, các lao động phải ký hai loại giấy tờ cần thiết. Một là giấy tờ xác nhận không trốn ra ngoài, nếu trốn ra ngoài sẽ bị phạt từ 80-100 triệu đồng. Tại sao lao động phải ký loại giấy tờ này? Tình trạng các lao động Việt khi qua bên Đài, Nhật, Hàn làm việc một thời gian thì thường hay ở lại đó luôn một cách bất hợp pháp. Lý do vì sao họ không muốn về Việt Nam và trốn lại đó làm việc thì xin đọc bài "tại sao lại rời bỏ quê hương.." trên, để hiểu rõ hơn. Vấn đề là các lao động hầu như bị ràng buộc rất lớn vào công việc bên nước ngoài, cho dù tình trạng làm ăn của các cty bên đó như thế nào? Và chế độ phúc lợi làm sao?
Hai là ký xác nhận cty xkld chỉ thu của lao động số tiền đúng như pháp luật quy định. Chẳng hạn, đối với một lao động đi làm việc Đài Loan, chi phí được cho phép thu dao động từ 4.000-4.500 usd, nhưng thực tế các cty xkld thu từ 5.500-6.000 usd.
So với các nước trong khu vực mức thu phí xuất khẩu lao động của Việt Nam là quá cao so với Philippines, Thái Lan, Indonesia. Theo các lao động làm việc ở Đài Loan, các lao động của những nước trên khi qua Đài, Hàn hay Nhật làm việc mức chi phí từ 2.000-3.000 usd. Những lao động Philippines, Indonesia, Thái Lan họ bảo số tiền họ đóng cho các trung tâm xkld phần lớn là tiền vé chi phí máy bay. Xét trên khia cạnh này, các lao động Việt Nam bị bóc lột từ hai đường dây. Một từ chính quyền, hai từ đường dây tuyển người của các cty xkld. Bởi tiền vé may bay (khứ hồi) của lao động đi qua Hàn, Nhật, Đài không bao giờ vượt quá 2.000 usd. Số tiền chi phí bỏ ra của các lao động Việt Nam là một trong những nguyên nhân khiến con đường xkld không phải là một con đường làm giàu, thực tế nó còn là nguyên nhân chính khiến không ít lao động phải ở lại làm việc bất hợp pháp ở nước ngoài.
Đối với các lao động đi xkld Việt Nam mà nói, tất cả những chi phí họ phải trả đều phải vay mượn từ bên ngoài. Một số ít vay mượn từ người thân, phần lớn còn lại đều phải cầm sổ đỏ, hoặc vay từ các tay nợ nóng. Bởi tình trạng vay mượn từ người khác, ngân hàng hay chủ nợ nóng nên các lao động Việt Nam chỉ còn một đường là chấp nhận bị bóc lột để ít ra có thể kiếm đủ tiền trả nợ ở nhà. Có không ít trường hợp làm hết ba năm hợp đồng chỉ đủ để trả nợ cho ngân hàng.
Tất cả những gì được viết ra đây không đúng 100% thì cũng chính xác 99%. Bài viết chỉ hy vọng giúp một tiếng nói vào vấn nạn bất công mà các lao động xkld đang phải gánh chịu, hy vọng sẽ có nhiều tiếng nói hơn từ dư luận để làm thị trường tuyển dụng lao động đi làm việc nước ngoài ở Việt Nam công bằng và trong sạch hơn.
Chúng ta đã sai lầm khi chỉ trích nền giáo dục Việt Nam
Link thảo luận:
Featured Image: Wikipedia Commons
Giáo dục Việt Nam quá thối nát? Bạn thực sự nghĩ nền giáo dục hiện tại đang suy tàn như vậy sao? Tôi không nghĩ nền giáo dục Việt Nam đang xuống cấp như nhiều người vẫn nói. Hôm nay, tôi muốn cùng bạn nghiêm túc truy xét tận cùng nền giáo dục Việt Nam để khẳng định lại giá trị thật sự của nền giáo dục ấy, và tìm ra một giải pháp thích hợp cho nền giáo dục nước nhà.
Thực trạng nền giáo dục Việt Nam
Bạn là người quan tâm đến xã hội, đặc biệt đến giáo dục chắc chắn sẽ đồng ý với ý kiến của nhiều người hiện nay về thực trạng giáo dục Việt Nam: thối nát, lạc hậu, giáo điều. Tôi lại không nghĩ nền giáo dục Việt Nam tiêu cực đến mức vậy, ngược lại nó đang rất thành công, rất linh hoạt và hoàn thành tốt trách nhiệm của nó.
Những hình ảnh cô cậu trong chiếc áo học trò đánh hội đồng bạn học, những câu chuyện suy đồi đạo đức của một bộ phận không nhỏ các giáo viên, những kết quả bét bát khi so sánh với các nền giáo dục nước ngoài, và cuối cùng là khả năng cạnh tranh kém cỏi của sinh viên Việt Nam so với thế giới đã khiến chúng ta đi đến những kết luận đầy tính tiêu cực trên. Có lẽ chúng ta quá nóng vội khi đưa ra những khẳng định trên về nền giáo dục Việt Nam, mà bỏ sót một điều quan trọng bậc nhất trong nền giáo dục Việt Nam.
Giáo dục là phương tiên của chính trị
Khi chúng ta nhìn thấy thế giới ngoài kia đang phát triển từng giờ, văn minh từng ngày, giàu có từng năm chúng ta hốt hoảng khi nhìn lại quê hương. Thời gian càng trôi Việt Nam càng lùi, càng lùi so với đà phát triển của thế giới, và chúng ta la lên rằng: giáo dục Việt Nam thối nát lắm rồi. Bạn ơi, bạn sai rồi. Giáo dục Việt Nam không hề thối nát như bạn nghĩ, mà thực ra nó đã hoàn thành tốt mục đích ban đầu của nó. Giáo dục là phương tiện cho chính trị.
Tôi nghiêm túc nói với bạn điều đó, chúng ta sai rồi, chúng ta đã chỉ trích sai hệ thống giáo dục con người xã hội chủ nghĩa rồi. Bạn nhìn cho rõ, suy cho tận bạn sẽ thấy nền giáo dục này quá thành công, quá tuyệt vời, quá sức tưởng tượng để có thể nói thành lời.
Nó thành công khi hoàn thành tốt một phương tiên để duy trì nền chính trị độc đảng. Nó quá tuyệt vời khi đã tạo ra những thần dân hơn là công dân. Chúng ta đã sai khi nghĩ rằng giáo dục phải là giáo dục con người giải phóng. Giải phóng khỏi các giáo điều cũ kỵ, giải phóng khỏi sự cuống tín, giải phóng khỏi sự man rợ, vô cảm, vô trách nhiệm, thay vào đó là tạo ra những công dân tự do về ý chí, độc lập về nhận thức, có tinh thần trách nhiệm, liên đới với xã hội, vân vân.
Chúng ta lấy khuôn mẫu của Mỹ, Phương Tây, Nhật Bản rồi đối chiếu với kết quả của giáo dục Việt Nam, và đi đến những nhận xét hoàn toàn thiếu thực tế. Ở nước ngoài người ta không chấp nhận biến giáo dục làm phương tiện cai trị, nên người ta mới có những kẻ thích phản kháng và nổi loạn như vậy. Ở Việt Nam, chúng ta chấp nhận để giáo dục làm phương tiện cho chính trị, nên con em chúng ta mới trở nên ngu muội và trơ lì như thế. Thử hỏi giáo dục như công cụ cho quyền lực chính trị như vậy, thì làm sao đòi hỏi kết quả khác đi được. Bởi thế, tôi và các bạn đã hoàn toàn sai lầm khi chỉ trích nền giáo dục Việt Nam.
Chúng ta bảo giáo dục này xấu xa, thối nát, lạc hậu chẳng khác nào chửi vào đống phân bò sao mày thối thế, sao mày mất vệ sinh thế. Giáo dục Việt Nam đã không được độc lập để có thể tự vận động, tự phát triển, tự sửa đổi, tự sáng tạo nên chúng ta không thể làm gì được nó. Nguyền rủa nó, nhổ nước bọt vào nó, khước từ nó là chúng ta đang làm với chính chủ nhân của nó, đó chính là thể chế chính trị. Muốn cải cách giáo dục, muốn cách mạng nó, hay làm bất kỳ điều gì tốt cho nó, chỉ có thể làm hai việc sau: một thay đổi thể chế chính trị để nó phù hợp với lý tưởng giáo dục mà chúng ta mong muốn; hai là yêu cầu giáo dục phải tách rời khỏi chính trị, nó phải được độc lập hoạt động.
Giáo dục phải độc lập
Bấy lâu nay chúng ta nói về giáo dục, đưa ra nhiều giải pháp, thay đổi nhiều chương trình với hy vọng cứu vớt được nền giáo dục công cụ này mà quên mất rằng: phương tiện và cộng cụ làm sao có thể phát triển và hoàn thiện chính nó được. Chúng ta chỉ trích công cụ, lên án phương tiện mà bỏ sót chủ nhân đích thực của nó thì chẳng khác nào dã tràng xây cát biển đông. Bước đầu tiên cần làm, và quan trọng nhất đó là độc lập giáo dục thì chúng ta lại bỏ quên.
Các hoạt động giáo dục phải hoàn toàn được độc lập, tức là nó không được và không thể là công cụ và phương tiện cho bất kỳ hệ thống niềm tin nào. Giáo dục không phải là phương tiện của chính trị, tôn giáo, kinh tế. Giáo dục phải là tất cả. Giáo dục chính trị, kinh tế, tôn giáo mà không phải là phương tiện và cộng cụ của nó. Nếu nó là công cụ cho chính trị thì nó chỉ tạo ra những con người biết tuân phục mà không còn khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu. Nếu giáo dục là công cụ của kinh tế thì chỉ tạo ra những con người hám lợi, tham lam và ích kỷ. Nếu giáo dục là công cụ của hệ thống niềm tin nào đó thì nó chỉ tạo ra những kẻ cuồng tín, độc ác và ngu muội. Giáo dục phải được độc lập trong các hoạt động của nó. Độc lập không có nghĩa là cô lập khỏi các vấn đề xã hội. Một khi giáo dục được độc lập hoạt động, thì khi đó mới hy vọng về một sự thay đổi tích cực trong xã hội.
Đòi hỏi giáo dục phải được hoạt động độc lập đối với chúng ta mà nói, đó là một việc làm nguy hiểm. Tại sao ư? Chúng ta quay trở lại khẳng định tối quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, đó là phương tiện cho chính trị. Câu hỏi là: tại sao lại biến giáo dục thành thử công cụ đê hèn như vậy? Chúng ta biết tất cả những vấn đề như kinh tế, tôn giáo, chính trị đều là con người. Chính con người làm nên chính trị, và vì thế muốn duy trì chính trị cần làm chủ con người. Giáo dục lại đóng một vài trò cực kỳ quan trọng trong sự hình thành nên cá tính, nhân cách, suy nghĩ của một con người. Nếu chỉ kiếm soát con người bằng nhà tù và mật vụ mà bỏ quên giáo dục thì chỉ cần một thể hệ được lớn lên trong một nền giáo dục độc lập, thể chế chính trị đó cũng sẽ tự suy tàn. Bởi sẽ không ai tuân phục họ, không ai làm mật vụ cho họ, không ai biết xấu là mà làm càn, biết sai mà làm liều. Bạn chắc biết điều này, nền giáo dục công cụ là nền giáo dục giết chết lương tri con người, còn nền giáo dục độc lập lại tạo ra sự tự do bên trong lẫn bên ngoài.
Thật sai lầm khi để giáo dục giải phóng con người, mà vẫn muốn duy trì thứ quyền lực độc tài bằng gian dối và bạo lực. Bởi thế thật đúng khi nói, bạn và tôi sẽ là thế lực thù địch cho nền chính trị này nếu chúng ta dám đòi hỏi một nền giáo dục độc lập. Một đòi hỏi đúng đắn nhưng chúng ta không dám làm, bởi chúng ta còn quá nhiều nỗi sợ. Tôi biết bạn sợ, tôi cũng vậy. Bởi vì tôi và bạn còn sợ hãi, nên chúng ta không thể làm việc này một mình, đúng chứ? Bạn cần một cánh tay, tôi cũng cần một cánh tay. Chỉ cần một người cho nhau mượn một cánh tay, và khi có nhiều cánh tay bên nhau, chúng ta sẽ làm nên được điều đúng đắn cho con em chúng ta, đất nước chúng ta. Và việc đầu tiên cần làm để thay đổi nền giáo dục Việt Nam, đó là yêu cầu một thể chế chính trị dân chủ và tự do thật sự.
Thể chế chính trị dân chủ và tự do
Tôi đang đưa bạn vào vấn đề chính trị, một vấn đề mà tôi nghĩ nó không mấy thoải mái đối với chúng ta. Thật sự nếu tránh được nó khi bàn về giáo dục, tôi cũng đã tránh để có nhiều người đọc bài viết này. Nhưng thật gian dối và không công bằng với nhau khi tôi né tránh nó. Với lại, tôi không muốn bàn về giáo dục một cách hời hợt, và không thực tế. Tôi muốn nói vấn đề giáo dục một cách thực tế, có nghĩa là nếu đưa ra một giải pháp nó phải có hiệu quả đối với tầng lớp nghèo trong xã hội.
Tôi biết có nhiều người đưa ra rất nhiều giải pháp cho nền giáo dục Việt Nam, nhưng họ lại bỏ quên những tầng lớp công nhân và nông dân ở Việt Nam. Bạn có thể đưa ra một giải pháp như giáo dục online, hay là cha mẹ tự giáo dục con cái, nhưng những điều này không khả thi đối với con em tầng lớp lao động nghèo khó ở Việt Nam. Học online điều cần là có một máy tính có kết nối mạng. Cứ cho là gia đình nào cũng có thể mua cho con em họ những trang thiết bị đó, vậy ai dám chắc những đứa trẻ kia không chơi game hay xem phim trên mạng thay vì học?
Vậy là cần có một người lớn coi chừng việc học online này của các em. Đây là một sự lãng phí về nhân lực, và hơn nữa không khả thi đối với cường độ làm việc của các gia đình lao động nghèo ở Việt Nam. Còn đề xuất cha mẹ tự giáo dục con cái thì lại càng khó khăn hơn đối với thực trạng gia đình Việt Nam. Bởi thế, tôi quan tâm đến nền giáo dục truyền thống, tức là đến trường và học theo một thời khoa biểu nhất định. Và vì lẽ đó, tôi phải nói về chính trị vì thứ giáo dục truyền thống đó đang trở thành thứ công cụ hám lợi, hám danh của các chính trị gia.
Thể chế chính trị ở Việt Nam đang là lực cản lớn nhất cho một nền giáo dục thật sự. Và không thể làm gì khác hơn ngoài sự thay đổi nó, thay đổi một thể chế chính trị độc tài sang một thể chế dân chủ và tự do thật sự. Những con em của các gia đình tầng lớp công nhân và nông dân chỉ có thể hi vọng vào nền giáo dục khi nó được hoạt động độc lập. Và giáo dục chỉ trở lại với đúng như nó là khi chúng ta có một nền thể chế dân chủ và tự do.
Tôi đang yêu cầu bạn tham gia các hoạt động chính trị chăng? Không, xin bạn đừng hiểu nhầm. Tôi chỉ hy vọng nếu bạn không chống đối lại thể chế này thì cũng đừng ủng hộ nó. Bạn không thể lên tiếng chống lại sai trái mà hệ thống chính trị này đang làm, thì đừng hùa theo bọn họ chống lại những người tranh đấu cho dân chủ và tự do. Nếu bạn không thể chống tham nhũng thì cũng đừng vô cảm với những người chống tham nhũng. Họ cần bạn ủng hộ và lên tiếng giúp họ khi bị nguy nan. Nếu bạn không thể chống lại những tên công an đánh dân thì cũng đừng thờ ơ với các nạn nhân của họ. Mỗi người làm một ít, và dứt khoát không tiếp tay và ủng hộ những sai trái do thể chế này gây ra, thì tôi nghĩ chúng ta sẽ có thể mơ đến một thay đổi tích cực cho quê hương, gia đinh và con em của mình.
Xã hội Việt Nam đang mục nát, thối rữa, và tàn tạ theo từng giờ. Tôi nghĩ chỉ những ai quan tâm đến cải thiện xã hội sẽ nhận ra được sự thực này. Vì thế, chúng ta những con người muốn thay đổi xã hội, chúng ta phải nghiêm túc truy xét toàn bộ cấu trúc vận hành của xã hội này, phải thật sự thâm nhập sâu vào nó để có thể thấy toàn thể cái vận hành của nó. Tôi nghĩ chỉ khi thấy được cái tổng thể này, hiểu rõ toàn cấu trúc đang mục nát và thối rữa này, chúng ta mới biết làm gì để thay đổi nó.
Nền tảng xây dựng xã hội này là gì?
Xã hội Việt Nam có thực sự là xã hội chủ nghĩa? Chắc chắn đây không là xã hội được xây dựng trên các giá trị công bằng, không phân biệt, không bóc lột, bởi vì sự phân chia, bất công đang là thứ dư thừa và tràn ngập trong cái gọi là xã hội chủ nghĩa này. Cái tên mà chúng ta đang nghe, nó chỉ là một lời truyên truyền mĩ dân, một tầm áo choàng khoác lên thân hình đầy giòi bọ và gớm ghếch mà thôi.
Nó cũng không phải được đặt nền tảng trên sự sợ hãi, bạo lực, gian dối. Bạo lực, gian dối, sợ hãi chỉ là phương tiện để xã hội này vận hành theo ý muốn của ai đó, nhóm người nào đó. Và chắc chắn cũng không đặt nền tảng trên tình yêu. Một xã hội tràn ngập sự sợ hãi, bạo lực và gian dối thì không thể tồn tại cái gọi là tình yêu. Tình yêu phải đi đôi với tự do, tự do lại thứ thiếu trong nhà tù và nghĩa địa. Những cái xác chết và những tên cai ngục không bao giờ hiểu về tự do. Bởi thể, trong nhà tù không có cái gọi là yêu, nơi nghĩa địa cũng không tồn tại cái sự phong phú của cuộc sống này. Xã hội Việt Nam bị xem như là cái nhà tù, trong đó có hàng nghìn nhà tù nhỏ khác. Bạn hiểu điều tôi nói chứ?
Xã hội này nó phải xây dựng trên một nền tảng mà ở đó thiếu vắng tình yêu, niềm tin, tự do. Phải là một điều gì đó tiêu cực, cực kỳ tiêu cực bởi nó có khả năng khiến người ta sẵn sàng dùng bạo lực, gian dối, nô lệ cho sợ hãi, và chấp nhận sống cùng những thứ ghê tớm đó trong mấy chục năm qua, đúng chứ? Tôi nghĩ chỉ có một điều duy nhất có thể khiến người ta trở nên độc ác và cô cảm cực độ như vậy, đó chính là sự ích kỷ.
Ích kỷ là nền tảng mà xã hội này đang xây dựng
Ích kỷ là gì? Tại sao cái được gọi là xã hội lại có thể được xây dựng trên nó? Ích kỷ mà tôi đang nói tới đây là những lợi ích, những thoả mãn cá nhân, phe nhóm. Người ta chỉ biết tới bản thân, tích góp cho mình, cho gia đình mình mà bất chấp những hành động và phương tiện sai trái.
Bạn có nhìn thấy sự vô cảm trên khuôn mặt của những cá thể trong xã hội Việt Nam ngày hôm nay không? Chúng ta trở nên trơ lì, ác độc, vô cảm trước những bất hạnh và tổn thương mà chúng ta làm với người khác khi muốn đạt tới những lợi ích mong muốn. Cá nhân vì lợi ích bản thân trở nên những phương tiện làm điều ác, tiếp tay hay chính tay đi ám hại người khác. Doanh nghiệp, con buôn vì để kiếm lợi nhuận mà không ngần ngại tạo ra những sản phẩm độc hại làm nguy hại đến tính mạng và sức khoẻ người khác. Nước uống độc hại, thức ăn độc hại, công nghệ độc hại, vân vân. Hàng trăm, hàng nghìn thứ độc hại tung ra thị trường qua hàng năm. Chính quyền vì lợi ích đảng phái, phe nhóm, gia đình và bản thân tìm mọi cách kiếm thật nhiều lợi ích bất kể là cướp đất, bán biển và lệ thuộc ngoại bang.
Chỉ có sự ích kỷ mới có thể làm được điều đó, và chỉ có nó mới đủ khả năng khiến những cá thể đơn lẻ trở nên vô cảm, vô trách nhiệm trước viễn cảnh diệt vong của xã hội mà họ đang sống. Chỉ có ích kỷ mới có khả năng khiến người ta đạp đổ hết các giá trị truyền thống, văn hoá của một dân tộc 4 nghìn năm. Chỉ có duy ích kỷ này mới làm cho người ta trở thành thông minh giả tạo, đạo đức giả tạo, thành công giả tạo. Ích kỷ khiến người ta trở thành bất kỳ ai, và làm bất cứ điều gì dù xấu xa và đê hèn đến mấy. Cái tôi là thượng đế, và thượng đế của chúng ta chính là ích kỷ. Bạn có nhận ra được vị thượng đế này trong lòng bạn? Chỉ khi nào bạn nhận ra được sự thực này, lúc ấy bạn mới có khả năng hiểu rõ toàn bộ chuyển động xã hội này.
Chuyển động của xã hội Việt Nam
Chúng ta biết xã hội được hình thành từ những mối quan hệ giữa từng cá thể với nhau. Từng cá thể thuộc xã hội được gọi là công dân. Và khi hai hay nhiều cá thể gộp lại với nhau thì chúng ta có cái gọi là gia đình, doanh nghiệp, hội nhóm, chính quyền, vân vân. Nhìn bề ngoài thì hầu như mọi xã hội đều giống nhau trong sự phân chia của mình. Nhưng nếu thâm nhập sâu hơn chúng ta sẽ thấy sự khác biệt khá lớn giữa từng xã hội với nhau trong các mối quan hệ.
Xã hội Việt Nam được xây dựng trên sự ích kỷ nên các mối quan hệ dân sự đang trở nên rất giả dối. Tôi không nói tất cả, nhưng hầu như đều vậy. Mối quan hệ lớn nhất trong hầu hết mọi xã hội đó chính là giữa chính quyền và người dân. Trong mối quan hệ này, chính quyền cộng sản Việt Nam với những thành phần còn lại là quan hệ mạnh yếu, thắng thua, người cai trị và kẻ bị trị. Đây là quan hệ man ri, mọi rợ khi xã hội chưa phát triển, lạc hậu. Bạn phải tự hiểu rõ điều này, phải nhìn rõ sự thực này thì mới có thể nói tới thay đổi xã hội. Thực ra, các mối quan hệ xã hội từ chính quyền với người dân, từ doanh nghiệp tới người tiêu dùng, từ người dân với người dân đều đang được vận hành trên quy tắc mạnh yếu, thắng thua, cai trị và bị cai trị.
Ích kỷ sinh ra mạnh yếu. Tau mạnh thì tau là vua, tau mạnh thì tau là công lý; mày yếu nên mày phải im lặng, mày yếu nên mày bị phân biệt, bị xem thường. Mạnh yếu này sinh ra bạo lực. Ích kỷ không dựa trên lý luận hợp lý, nó dựa vào sức mạnh cơ bắp. Chính quyền cộng sản là ví dụ điển hình. Họ ăn cắp hàng trăm tỉ, biến tài nguyên đất nước thành tài sản riêng tư, gây đau thương cho hàng vạn người khiến họ sống không bằng chết, chết cũng không yên, nhưng "Đảng" vẫn ung dung nói chuyện đạo đức, luật pháp. Đảng đơn giản đã dùng công an và côn đồ để trấn áp tất cả những ai dám nói sự thật, dám chống đối lại những việc làm sai trái đó.
Mạnh yếu không chỉ là bạo lực cơ bắp, nó còn thể hiện trên tiền bạc, danh tiếng. Kẻ nhiều tiền thì có quyền sống trên luật pháp, kẻ có danh tiếng địa vị thì được cung phụng, bưng bộ như thứ phương tiện để làm ngu muội đám dân lười biếng ham hướng thụ.
Ích kỷ cũng tạo ra sợ hãi. Sợ hãi bạo lực, nhà tù, công an đơn giản bởi vì người ta ích kỷ. Yêu thân xác mình quá, bám víu vào tài sản quá mức khiến chúng ta sợ hãi khi phải đối đầu với những cái ác mà do kẻ khác gây ra. Trong sự sợ hãi này, ích kỷ sinh ra vô cảm và độc ác. Một tâm hồn nhạy cảm là một tầm hồn biết sống cho mình và cho người khác. Một người vô cảm thì hoàn toàn ngược hẳn, họ sống thiên về bản thân, gia đình họ quá mức. Họ xem những gì đang xảy ra cho người xung quanh là bình thường, không còn rung động và khả năng cảm nhận nỗi đau với người khác. Ích kỷ này cũng sinh ra độc ác. Độc ác chính là làm hại người khác, làm tổn thương người khác mà vẫn vui, bình an.
Sợ hãi, gian dối, bạo lực, vô cảm chính là những quan hệ mà xã hội này đang tồn tại. Dân sợ chính quyền, chính quyền quan hệ với dân bằng gian dối và bạo lực. Dân với dân quan hệ bằng vô cảm, gian dối và bạo lực. Trong toàn bộ cấu trúc và sự vận hành này, chúng ta nhận ra được sự ích kỷ của từng cá thể. Ích kỷ này được nuôi dưỡng trong những hệ thống như kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn giáo. Toàn sự vận hành này không phải đang dẫn đến sự huỷ diệt toàn bộ sao? Chết chóc toàn bộ sao?
Sư vận hành của cái chết, đó chính xác là tên gọi của toàn chuyển động mà xã hội Việt Nam đang làm. Chúng ta đang điên cuồng tham gia vào guồng máy chết chóc này. Và chắc chắn không thể ngăn cản sự huỷ diệt, thay đổi nó bằng cách thay đổi những hình thức bên ngoài mà bỏ quên chính con người. Phải thay đổi con người, thay đổi bên trong. Thay đổi cách suy nghĩ cũ kỹ, thay đổi lối sống an phận già nua. Thay đổi bên trong này chỉ có thể xảy ra khi người ta biết mình ích kỷ, biết mình đang sợ hãi, biết mình đang vô cảm. Khi một điều giả dối được nhìn thấy là giả dối thì nó tự tan biến, khi một sự thật được nhìn thấy là sự thật, thì sự thật đó có khả năng biến đối. Thay đổi vì sự chê bai, phán xét, chỉ trích từ người khác vẫn không phải là thay đổi, nó chỉ là sự lẫn tránh sự thật và khoác lên mình cái áo mới cho những điều gian dối.
Làm thế nào để chấm dứt tình trạng thực phẩm độc hại trên thị trường Việt Nam?
Link thảo luận:
Tôi tin không người Việt nào có lương tri mà có thể yên tâm ăn ngủ khi nghĩ về cái dịch ung thư đang xảy ra ở Việt Nam. Một trong những nguyên nhân chính là người Việt đang phải ăn và uống hàng ngày các loại thực phẩm độc hại, được tuồn từ Trung Quốc và từ chính người Việt làm ra. Rõ ràng để giải quyết vấn nạn này, cần có nhiều biện pháp đồng bộ về luật pháp, về kinh tế, về giáo dục, về chính trị. Không thể ra luật cấm, xử phạt thật nặng là xong, vì nó cũng giống như tham nhũng và trộm cắp. Luật pháp xử rất nặng các tội này, có khi là chung thân và tử hình thế mà tham nhũng ngày càng phát triển, trộm cướp ngày càng lộng hành táo tợn hơn. Muốn chấm dứt được tình trạng thực phẩm độc hại trên thị trường cần phải có một nền kinh tế thị trường tự do, một nền chính trị dân chủ, một nền pháp trị, và một xã hội tôn trọng dân quyền. Đây không là giải pháp mới, đây cũng không là hiến kế cho chính quyền cộng sản, đây chỉ là đang trả lời câu hỏi vì sao của hàng triệu người dân Việt Nam trước đại dịch ung thư, quốc nạn tham nhũng, bắt cóc trẻ em và phụ nữ, cướp bóc, lộng hành. Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến vấn đề nhận hối lộ và thực phẩm độc hại.
Câu hỏi đầu tiên mà ai trong chúng ta cũng sẽ hỏi khi thấy cảnh người Việt tiêm chất độc hại vào thịt, hoa quả, rau, vân vân rồi tung ra thị trường. Tại sao họ lại có thể làm như vậy?
Vâng, lương tri họ để ở đâu mà có thể tự đầu độc người đồng bào mình như vậy? Ở Việt Nam hiện nay có câu nói rất phổ biến là: lương tâm không bằng lương tháng. Lương tâm có thì làm đẹp tâm hồn và đẹp xã hội, nhưng lương tháng quá ít hay không có thì cũng rất khó để nói đến lương tâm. Bởi thế câu hỏi nên đặt ra lúc này là tại sao người ta không thể sống nổi bởi làm ăn lương thiện? Đây mới là câu hỏi thực tế và cần thiết.
Tại sao người Việt ở đất Việt không thể làm ăn lương thiện để sống? Chắc chắn có không ít người Việt đang làm ăn lương thiện để sống, nhưng để gọi là sống đủ, sống tốt, sống có tương lai, có dư giả thì hiếm người lắm. Tại sao? Vấn đề này liên quan đến lợi nhuận trong kinh doanh. Đây là một chủ đề của kinh tế học, cả vĩ mô lẫn vi mô.
Làm ăn thì phải có lợi nhuận. Không ai làm ăn mà không muốn có thật nhiều lợi nhuận. Phần lợi nhuận này là phần mà người kinh doanh trừ ra hết các khoản chi phí dùng để sản xuất sản phẩm, hay cung cấp dịch vụ. Phần chi phí sản xuất tất tần tật có thể được tính vào giá cả. Như vậy muốn có lợi nhuận thì mức giá phải vừa hợp lý và hợp túi tiền người tiêu dùng. Giá cả ở đây nói tới là chi phí dùng để sản xuất sản phẩm.
Vấn đề đặt ra là trong nền kinh tế trị thường nếu anh muốn tồn tại và phát triển là cạnh tranh. Cạnh tranh là một trong những yếu tố chính giúp cải thiện chất lượng sản phẩm, và bảo vệ người tiêu dùng khỏi cơ chế độc quyền. Lúc này người kinh doanh Việt Nam đặt ra cho mình câu hỏi: làm thế nào để cạnh tranh?
Trước khi trả lời câu hỏi làm thế nào để cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, chúng ta thứ tìm hiểu xem người kinh doanh Việt đang phải cạnh tranh với ai? Chúng ta biết kinh tế Việt Nam có hai đặc điểm chính: một tập trung vào các tập đoàn nhà nước, hai phụ thuộc vào TQ. Như vậy đổi thủ của các doanh nghiệp, các nhà buôn Việt vừa và nhỏ trên thị trường là hai gã khổng lồ với số vốn từ nhà nước cung cấp không giới hạn.
Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào TQ, và các doanh nghiệp TQ lại được sự hỗ trợ từ chính quyền của họ, nên họ không hề theo cái gọi lại quy luật cung cầu trong kinh tế. Họ bán phá giá sản phẩm không thương tiếc, bán với những cái giá rất rẻ, đủ sức lôi kéo kẻ keo kiệt nhất về tiền bạc. Đây là một nguyên nhân khiến các sản phẩm làm ra dù chất lượng ở Việt Nam không thể cạnh tranh với hàng hoá TQ. Giá cả quá cao sẽ không bán được, vì không thể cạnh tranh với hàng giá rẻ TQ. Bán giá thấp thì sẽ thua lỗ, doanh nghiệp phá sản.
Nguyên nhân thứ hai đó là tệ nạn nhận hội lộ. Dù Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nhưng thực sự vẫn là một nền kinh tế với cơ chế xin cho, cấp phép. Không phải anh đủ vốn, đủ cơ sơ hạ tầng, đủ nhân lực là có thể kinh doanh, điều tối thiếu và quan trọng bậc nhất ở Việt Nam nếu muốn hoạt động kinh doanh đó là được phép. Nếu cơ quan chức năng không cho phép anh không thể hoạt động. Vì bóng ma quyền lực kiểm soát mọi thứ, nên nó sinh ra cái bệnh là hối lộ. Tiền hội lộ không chỉ một lần, mà hầu như là theo định kỳ, giống như lũ anh chị đi thu tiền bảo kê hàng tháng mà chúng ta hay xem trên các phim xhd hk. Tiền này khi chi ra đã khiến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp tăng lên đáng kể, vì thế nó lại là một cản trở không nhỏ khiến doanh nghiệp Việt Nam mất sức cạnh trạnh với hàng TQ. Bên cạnh đó, với hàng trăm các khoản lệ phí, thuế mà doanh nghiệp phải đóng cho nhà nước thì có thể nói, không hàng hoá nào Việt Nam đủ khả năng cạnh tranh với hàng TQ, nếu còn muốn làm ăn lương thiện.
Bạn thấy đấy, hối lộ không chỉ là gánh nặng khiến hàng Việt Nam chất lượng chết yểu ngay từ khi mới manh nha, mà nó còn là cơ hội để TQ có thể dễ dàng tuồn hàng độc hại vào Việt Nam, và thu mua hàng nông sản chất lượng từ Việt Nam. Có thể nói, các doanh nghiệp TQ làm ăn với Việt Nam không phải vì lợi nhuận, mà có lẽ vì mục đích chính trị. Họ làm việc có kể hoạch và tổ chức rất bài bản. Từ khâu thua mua hàng chất lượng Việt Nam giá cao đến tuồn hàng phế thải vào Việt Nam. Nhìn kỹ thì sẽ thấy luôn có bàn tay của chính quyền TQ dính vào trong những vụ việc thế này. Hối lộ là cách dễ dàng nhất khiến mọi hoạt động này của TQ diễn ra suôn sẻ mấy chục năm qua. Chỉ cần cho cán bộ nhà nước tiền, thế là mọi hàng hoá dù độc hại từ TQ hay ở Việt Nam đều có thể tuồn ra thị trường.
Bây giờ chúng ta trở lại với câu hỏi: hàng hoá Việt Nam làm thế nào để cạnh tranh với hàng TQ? Đây là câu hỏi cần thiết nếu doanh nghiệp muốn tiếp tục các hoạt động kinh doanh, nhưng ở Việt Nam nó lại là một ngõ cụt nếu muốn làm công việc khó hơn lên trời này. Chắc chắn không thể có hàng giá rẻ hơn TQ mà chất lượng nếu còn phải chịu cảnh xin cho, cấp phép này được. Và những ai nghĩ tới lợi nhuận, bắt đầu làm hàng giả giống thật, tìm mọi cách làm ra sản phẩm với giá thật rẻ mà khách hàng vẫn tiêu dùng được. Và thế là hàng độc hại do người Việt làm ra đời. Cá, mực, tôm, thịt, rau, trái cây, nước mắm, nước ngọt hàng TQ có bao nhiêu hàng độc hại Việt Nam có bây nhiêu. Và kỳ lạ là những bí quyết, những chất độc hại lại tuồn từ TQ là chính. Các con buôn TQ không sợ hàng độc hại người Việt canh tranh với hàng của họ, mà họ còn giúp người Việt tạo ra sản phẩm như họ. Có vẻ như họ lại thấy vui vì người Việt đang làm rất tốt công việc ban đầu của họ.
Bây giờ câu hỏi lớn nhất là tại sao tệ nạn nhận hối lộ lại xảy ra ở Việt Nam? Đây chính xác là vấn đề chính trị, mà nói tới chính trị là vấn đề nhạy cảm, dễ bị coi là phản động. Nhưng cũng xin nói ngắn gọn thế thế này. Muốn chấm dứt hàng độc hại trên thị trường phải chấm dứt nạn hối lộ. Muốn chấp dứt nạn hối lộ phải chấm dứt độc quyền. Nói trắng ra là cơ chế chính trị có vấn đề, quyền lực tâp trung sinh ra quan liêu cửa quyền, và nó làm tha hoá không chỉ người cầm quyền, mà còn cả kẻ bị trị.
Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy xung đột, xung đột từ những cá thể, xung đột trong gia đình, xung đột trong xã hội, xung đột giữa các quốc gia, xung đột giữa các tôn giáo. Ngay trong bản thân của mình, chúng ta luôn thấy xung đột xảy ra. Điều gì tạo ra các xung đột triền miên này trong thế giới chúng ta?
Có xung đột là vì có đối lập. Đối lập về tư tưởng, về chủ nghĩa xã hội, về tôn giáo, về lợi ích. Có xung đột cũng là có con người xung đột. Người cộng sản xung đột với người tư bản, người Hồi xung đột với người Mỹ, PT... Con người xung đột cốt lõi cũng từ hệ thống chúng ta tin tưởng, phục tùng. Tất cả những đối lập này hoà quyện vào nhau tạo ra xung đột, tạo ra chiến tranh. Các quốc gia xung đột với nhau chưa hẳn là về lợi ích mà có thể là do hệ thống chính trị, sự khác biệt về đường lối. Các tôn giáo xung đột với nhau chưa hẳn là vì sự khác biệt niềm tin, có thể là vì lợi ích.
Chỉ khi nào con người tự do trong các hệ thống bị quy định, khi đó con người mới có thể mơ về hoà bình thật sự, yêu thương thật sự, và tôn giáo thật sự. Tôi gọi con người sống trong thế giới bị quy định nhưng không là sản phẩm của nó là những con người cô độc.
Con người cô độc
Chúng ta muốn tìm hiểu về con người cô độc, điều đầu tiên phải hiểu rõ về chính mình. Hiểu biết về bản thân không là một lý thuyết, một cái nhìn khuôn mẫu, càng không phải là sự công nhận của người khác, của uy quyền tôn giáo hay chính trị. Hiểu biết về bản thân cũng không phải là một quá trình tích luỹ, vì thế giới xung quanh chúng ta luôn thay đổi, và bản thân ta cũng luôn thay đổi không ngừng. Hiểu biết về bản thân đó chính là sự thấy rõ bản thân mình trong toàn bộ liên hệ với cuộc sống, từ bên ngoài lẫn bên trong qua từng khoảnh khắc của cuộc sống.
Chúng ta phải hiểu rõ cái chúng ta đang "là", chứ không phải là cái chúng ta nên là. Một tín độ Thiên Chúa giáo, Ấn giáo, Phật giáo hay một tín độ cuồng chủ nghĩa cộng sản, hồi giáo thường nhìn bản thân với lý tưởng được vẽ sẵn. Đó không phải là sự hiểu biết về bản thân khi soi mình với các chuẩn mực trong các hệ thống bị quy định. Chúng ta phải hiểu cái chúng ta đang là.
Chúng ta thường hỏi mình: tôi là ai? Nhưng tôi nghĩ đó không là câu hỏi cần thiết, câu hỏi quan trọng hơn chúng ta nên hỏi: tôi đang là ai? Chắc chắn cái chúng ta đang là chính là sản phẩm của quá khứ. Chúng ta đang hành xử theo khuôn mẫu của những điều mà chúng ta nhận được từ ngày hôm qua. Từ niềm tin tôn giáo, từ nền văn hoá, từ giáo dục, từ hệ thống chính trị, từ những đau khổ và vui buồn trong quá khứ. Nếu chúng ta không hiểu rõ được quá khứ của mình, thì chúng ta không thể nói là chúng ta biết mình.
Biết về quá khứ của mình thôi chưa đủ, chúng ta còn phải có một sự thông hiểu sâu thẳm hơn nữa. Đó là hiểu biết về bản ngã của mình. Cái tôi là gì nếu không phải là những ham muốn, những dục vọng, những khát khao. Tôi nghĩ chúng ta tuân phục một uy quyền nào đó, sống theo một khuôn mẫu nào đó đều xuất phát từ cái tôi của mình. Tại sao tôi là một tín hữu Kito mà không phải là một tín đồ Phật giáo? Người ủng hộ cảnh tá chứ không phải cảnh hữu? Tại sao tôi lại sợ hãi chính quyền độc tài mà lại không chống đối lại nó? Những điều như trên chắc chắn đều phát xuất từ cái tôi của chúng ta, nhiều người không nhận ra bởi vì nó quá tinh ranh khi ẩn nấp dưới những từ ngữ như: tình yêu đồng loại, thượng đế, chân lý hay tinh thần quốc gia.
Tôi nghĩ hiểu rõ về chính mình là điều quan trọng nhất trong cuộc sống của chúng ta, nếu chúng ta thật sự muốn thay đổi xã hội, thay đổi mọi thứ xung quanh. Không có sự hiểu biết này, không có sự nhận ra con người đang là này, mọi sự thay đổi bên ngoài đều hời hợt, đều không có giá trị.
Hiểu rõ về chính mình bạn sẽ hiểu rõ về các xung đột của mình. Tại sao chúng ta sợ hãi? Tại sao tôi tham lam? Tại sao tôi hay nóng giận? Tại sao? Tại sao? Chắc chắn để trả lời được câu hỏi tại sao, bạn phải có sự hiểu rõ về chính mình, và hiểu rõ mối liên hệ của mình với thế giới bên ngoài lẫn bên trong. Hiểu rõ không có nghĩa là phê phán, chỉ trích, ủng hộ, hay bất kỳ một phán xét nào. Bạn phải hiểu rõ bạn tham lam mà không chạy trốn nó, lên án nó. Bạn hiểu rõ bạn bạo lực mà không kiếm soát nó trong một hệ thống nào khác. Bạn đừng hiểu nhầm khi tôi nói không kiểm soát, không phê phán, không chỉ trích đồng nghĩa với với chiều theo nó.
Bạn chỉ cần nhìn thấy tại sao bạn tham lam? Tại sao bạn bạo lực? Và cái giây phút bạn chiêm ngưỡng con người bạo lực, con người tham lam, hay bất kỳ con người nào khác đang là đó mà không phán xét nó trong bất kỳ hệ thống niềm tin tôn giáo nào, xã hội nào bạn sẽ nhận ra biết phải làm gì. Tôi nghĩ điều này không phải dễ dàng, vì hầu hết chúng ta đều là những người luôn luôn bám víu vào cái gì đó. Khi thấy mình đầy dục vọng chúng ta tìm cách diệt dục vọng, khi thấy mình bạo lực chúng ta học cách không bạo lực. Nhưng thử hỏi, chúng ta đã diệt dục được không? Diệt đi bạo lực, diệt đi tham lam khi nương nhờ vào những hệ thống bên ngoài được không?
Thực ra những gì chúng ta đang cố làm chỉ là tự lừa dối mình, chúng ta ẩn nấp sau những lý tưởng của các tôn giáo, hay hệ thống xã hội nào đó. Và điều đó đồng nghĩa với việc khoác cho những bạo lực, những dục vọng, những tham lam những bộ cánh mới mà thôi. Hãy nhìn mà xem, những người hồi giáo, những người thiên chúa giáo, balamon, phật giáo đều nói về tình yêu huynh đệ, tình đồng loại nhưng chiến tranh tôn giáo vẫn luôn là những vết thương dày xéo lên lịch sử của nhân loại. Hay như người cộng sản, họ nói về thế giới đại đồng nhưng chính họ lại giết người khác nhiều nhất.
Rõ ràng là nương nhờ vào các hệ thống bị quy định không là giải pháp để giải quyết các xung đột của từng cá thể và thế giới này. Điều cần làm là hiểu rõ chính mình không theo một phản chiếu nào của những gì được áp đặt, nhìn một cách tổng thể cái đang là của mình. Một con người hiểu rõ về bản thân mình khoảnh khắc này qua khoảnh khác khác mà không bị quá khứ, tôn giáo, chính trị chi phối và bóp méo đó không là một kẻ cô độc sao.
Một kẻ cô độc, không phải là cô đơn. Người cô đơn là cuộc sống không còn thấy mối liên hệ nào với mọi thứ xung quanh. Cuộc sống của chúng ta là liên hệ, khi không còn liên hệ không còn cuộc sống, tức là cô đơn. Còn người cô độc tôi nói tới là người sống trong trọn vẹn mối liên hệ, liện hệ với tha nhân, với thiên nhiên, với chính mình nhưng không phải là sản phẩm của tôn giáo, của chính trị, của bất kỳ hệ thống tư tưởng nào. Con người như vậy thì không còn xung đột. Không xung đột với bất kỳ tư tưởng nào, quốc gia nào, tôn giáo nào nhưng lại thấy mình liên hệ với toàn bộ thế giới.
Và khi bạn hiểu về chính mình, sống giây phút hiện tại mà không nỗ lực để là ai, để giống phật, giống chúa hay giống bất kỳ thần tượng nào, nhưng hoà mình vào toàn sự kiện đang xảy ra, bạn sẽ biết mình sẽ làm gì. Đó chính là tình yêu.
Cô độc là tình yêu
Chúng ta luôn nói về tình yêu. Chắc chắn tình yêu là điều cần thiết nhất để xây dựng hoà bình trên thế giới này. Tình yêu thật sự chứ không phải tình yêu bắt chước. Người thiên chúa nói về tình yêu nhưng là tinh yêu của thượng đế, và cố bắt chước để yêu như ngài. Tín đồ phật nói về lòng từ bi, và sống từ bi theo phật. Người cộng sản cũng nói về tình nhân loại đại đồng, và sống tình đó theo lý tưởng cộng sản. Vân, vân. Nhưng nhìn lại thế giới mà xem, chiến tranh luôn xảy ra, và người ta sẵn sàng giết nhau cũng vì tình yêu đó. Tình yêu một khi ràng buộc vào một hệ thống niềm tin, dù tôn giáo hay xã hội đều không còn là tình yêu thật sự. Những người hồi giáo, đặc biệt các phần tử cực đoan hồi giáo họ nói về tình yêu của Alla nhiều hơn bất cứ ai, nhưng họ hiện tại lại là nỗi khiếp sợ của những người không là hồi giáo.
Rõ ràng, tình yêu trong các tôn giáo, trong các hệ thống xã hội không thể đem lại hoà bình, nó chỉ tạo thêm xung đột và chiến tranh. Chỉ khi nào toàn thể nhân loại này đều là người thiên chúa giáo, hay là người phật giáo, người hồi giáo, người cộng sản thì mới hy vọng sẽ không còn chiến tranh thế giới, chiến tranh tôn giáo, chiến tranh giữa các quốc gia. Nhưng điều đó là không thể, chúng ta chắc chắn với nhau điều đó. Không thể có một thế giới mà không có sự khác biệt về tư tưởng, về niềm tin tôn giáo. Vì thế, tình yêu mà bấy lâu nay chúng ta được nghe biết, nói về không thể mang lại hoà bình cho nhân loại, và cho từng cá thể. Chỉ khi nào chúng ta yêu nhưng không với tư cách một người thiên chúa giáo, một hồi giáo, một phật giáo, một cộng sản, hay một tư bản thì mới đạt tới tình yêu thật sự. Và một người có tình yêu như thế không phải là một người cô độc sao.
Tâm trí chúng ta tạo ra ý tưởng, ý tưởng thôi thúc ta hành động. Vậy điều gì tạo ra các ý tưởng? Chắc chắn nó là tư tưởng. Tư tưởng có được thông qua ký ức và các tâm trạng buồn vui sầu khổ. Ký ức là những gì chúng ta tiếp nhận từ ngày hôm qua thông qua giáo dục, kinh nghiệm cuộc sống, sách vở chúng ta đọc. Ký ức tạo ra tư tưởng và cả tâm trạng hiện tại khi có một sự kiện xảy ra. Hay nói chính xác, các hành động của chúng ta đều được dẫn dắt bởi quá khứ, và từ một khuôn mẫu nào đó chúng ta tin tưởng. Vì hành động theo một khuôn mẫu cố định nên chúng ta có các xung đột.
Đúng chứ? Vì thế, chỉ khi nào tâm trí chúng ta thoát khỏi các hệ thống bị quy định, không phán xét dựa trên những điều đã biết, nhưng luôn liên hệ sống hiện tại trong sự mới lạ, thì khi đó sẽ có tự do, có tình yêu. Một tâm trí như vậy ắt hẳn phải là kẻ cô độc, và một tâm trí tự do khỏi những hệ thống bị quy định từ trước chắc chắn sẽ có hành động của tình yêu.
Hiện tại luôn mới lạ. Bạn nhận ra được điều này chứ. Hiện tại mới lạ và không cố định, nhưng chúng ta lại dùng tình yêu của cố định, tình yêu của quá khứ để đối xử với hiện tại, vậy thì chắc chắn nó tạo ra xung đột. Xung đột ngay giây phút bạn bóp méo hiện tại theo một khuôn mẫu cố định, theo lý tưởng và hiểu biết của quá khứ. Chúng ta đã không nhìn ra được sự thật trong hiện tại, nên chúng ta không thể biết yêu thật sự. Hiện tại đã bị biến dạng bởi tâm trí của chúng ta, khi nó phán chiếu những khuôn mẫu, những kỷ niệm, những quá khứ lên hiện tại. Và vì không nhận ra được sự thật để sự thật giải thoát chúng ta, nên chúng ta không có tình yêu thật sự.
Tâm trí phải cô độc, phải thoát khỏi các hệ thống từ tôn giáo đến xã hội, từ kỷ niệm vui buồn đến trải nghiệm hạnh phúc khi nhìn giây phút hiện tại, những sự kiện đang xảy ra đúng như nó là, khi đó chúng ta sẽ biết thế nào là yêu. Yêu trong sự thật, trong từng khoảnh khắc của hiện tại với sự mới lạ của nó.