Thought you guys would like some Wardog-Eye Views of Royal Canin! I'm part of SCKC and we host Day 1 so here's a bunch of our Decor, our photo cube, and our BIS Ribbon. Handmade and GIANT. Trumpet the Bloodhound won. 🥳🎊

seen from Türkiye
seen from Vietnam

seen from France

seen from Sweden

seen from United States
seen from Germany

seen from United States

seen from Hungary

seen from Sweden

seen from Romania
seen from United States
seen from Spain
seen from China
seen from United Kingdom
seen from China

seen from United States
seen from Germany
seen from Yemen
seen from Germany

seen from Malaysia
Thought you guys would like some Wardog-Eye Views of Royal Canin! I'm part of SCKC and we host Day 1 so here's a bunch of our Decor, our photo cube, and our BIS Ribbon. Handmade and GIANT. Trumpet the Bloodhound won. 🥳🎊
There is no past, no future, only the now, eternal.
Geoffrey A. Landis, Ripples in the Dirac Sea
Từ tiểu luận A brief introduction to Chinese science fiction and fandom của Regina Kanyu Wang (Vương Khản Du), in trong cuốn Broken Stars.
(phần gạch đầu dòng là thông tin paraphrase từ bài tiểu luận, phần mở ngoặc bên dưới là mình bullshit thêm).
- Thuật ngữ tiếng Trung cho dòng science fiction là khoa huyễn. Fantasy là kỳ huyễn. Nhưng kỳ huyễn khó có thể coi như một dòng văn học thống nhất, bởi bên trong nó có nhiều phân nhánh nhỏ: huyền huyễn (văn học mạng với các yếu tố kỳ ảo lấy từ văn hóa Trung), ma huyễn (ảnh hưởng từ phương Tây), etc.
(ok hơi hiểu một chút vì sao các bạn đọc truyện Trung nhiều - theo như mình quan sát, một cách không lấy gì làm sát sao cho lắm - rất kỹ tính và rất hay tranh luận trong việc xác định thể loại các tác phẩm. cá nhân mình học theo Ishiguro: thể loại là cái gì cơ?)
- Ví dụ sớm nhất về một tác phẩm khoa huyễn ở Trung Quốc nằm trong sách Liệt Tử (khoảng thế kỉ 4 TCN). Người thợ máy (?) Yến Sư chế tạo ra một cỗ máy giống người đến nỗi vua tưởng đó là người thật, cuối cùng Yến Sư phải tháo bỏ các bộ phận để chứng minh đó chỉ là một cỗ máy.
(nghe hơi Alan Turing nhỉ lmao).
- Lỗ Tấn là một trong những người đầu tiên dịch sách khoa huyễn phương Tây sang tiếng Trung, tiêu biểu có From the Earth to the Moon và A Journey to the Centre of the Earth của Jules Verne. Nhưng vì không biết tiếng Pháp (ngôn ngữ của Verne) nên Lỗ Tấn sử dụng các bản dịch tiếng Nhật. Và không chỉ chuyển ngữ, ông còn cắt xén và viết lại kha khá nội dung của các cuốn này, chủ yếu do sợ độc giả cảm thấy khó hiểu trước các thuật ngữ khoa học dày đặc.
- Làn sóng thứ nhất của dòng khoa huyễn đến vào thập niên 1950, với những tác phẩm khai thác những chuyến du hành ngoài không gian, lên thăm sao Hỏa, đến các hệ sao khác, v.v.
(có thể nói các nội dung này khá tương đồng với dòng khoa huyễn phương Tây cùng thời? đọc đến đây mình nhớ tới Clarke, Asimov và Bradbury).
- Cách mạng Văn hóa và cải cách của Đặng Tiểu Bình là hai sự kiện khiến cho dòng khoa huyễn gần như bị xóa sổ. Cách mạng Văn hóa loại bỏ triệt để bất cứ thứ gì liên quan đến tư sản phương Tây. Còn ở thập niên 1980, dòng khoa huyễn bị coi là ngụy khoa học, làm ô nhiễm tinh thần con người.
- Các tạp chí khoa huyễn đã xuất hiện ở Trung Quốc từ thập niên 1970, và có thời đã từng bán được tới 200,000 bản cho mỗi số.
(ở Việt Nam có tạp chí nào không nhỉ? mình biết mỗi SFVN - a fanzine, actually - ra từ năm 2016 - 2019, giờ chủ biên bận quá không thấy thêm số nào mới).
(một chiếc link cho những ai muốn xem tạp chí khoa huyễn ở mình mặt mũi ra sao. cơ mà cũng toàn đăng truyện dịch với tranh của họa sĩ nước ngoài thôi, chứ có tác giả với họa sĩ Việt nào đâu - tính Aliette de Bodard là người Việt thì lại thành nhận vơ vcl).
(mình cũng vừa tra nhanh trên Google Scholar thì không thấy bài viết nào thống kê về dòng này ở Việt Nam cả. và tìm được mỗi một bài về cụ Viết Linh, viết khoa học viễn tưởng từ những năm 1960. ngày nay chắc nhiều hơn, đến Nguyễn Ngọc Tư còn viết truyện hậu tận thế cơ mà, nhưng chưa thấy tác giả nào theo đuổi duy nhất dòng này).
- Năm 1999, đề thi đại học của Trung Quốc ra một câu nghị luận như sau: Sẽ ra sao nếu ký ức có thể được cấy ghép? - trùng với nhan đề của một bài viết trên tờ Science Fiction World (một tạp chí khoa huyễn ở Trung Quốc). Sau vụ này, doanh số của tờ SFW tăng cao kỷ lục.
(trong khi đó ở mình đề văn năm rồi trích dẫn Bí mật của nước, mình kiểu hello hết sách để mà trích rồi à??? trộm nghĩ bây giờ bên mình cũng ra đề có yếu tố khoa huyễn í nhỉ chắc doanh số cũng tăng thôi, như quyển gì của Phạm Lữ Ân í).
- Một vài trường đại học ở Trung Quốc cũng duy trì tạp chí khoa huyễn của riêng mình, tiêu biểu có tờ Critical Point của Đại học Tứ Xuyên, duy trì hơn 20 năm.
(nếu mình không nhầm thì Hác Cảnh Phương - tác giả Trung Quốc thứ hai đoạt giải thưởng SF của phương Tây, sau Lưu Từ Hân - thời sinh viên từng có truyện ngắn đăng trên tạp chí khoa huyễn của Đại học Thanh Hoa. tạm thời chưa nhớ ra tên).
- Có hai SF fangroup lớn ở Trung Quốc là AppleCore và World Chinese Science Fiction Association (WCSFA). AppleCore ban đầu hình thành từ các câu lạc bộ SF của các trường đại học ở Thượng Hải, đến giờ vẫn chủ yếu quản lý bởi fan, nhưng cũng tổ chức được rất nhiều sự kiện lớn, đáng chú ý. WCSFA thì chính thức và chuyên nghiệp hơn, gồm khoảng 300 thành viên, trong đó bao gồm các tác giả, dịch giả, nhà nghiên cứu, v.v.
- Hầu hết các tác giả scifi Trung Quốc được biết đến ngày nay (in the English speaking world, maybe) đều có background làm khoa học khá khủng.
(hầu hết những cái tên này đều chưa được biết đến nhiều ở Việt Nam, ngoại trừ Lưu Từ Hân với bộ Tam thể).
(theo mình biết, Ken Liu gần như là dịch giả duy nhất của các tác phẩm khoa huyễn Trung từng được đề cử các giải thưởng phương Tây, cho đến nay. Bộ ba Tam thể, Gấp Bắc Kinh, etc đều nhờ Ken Liu mà được độc giả nói tiếng Anh biết đến).
My death looms over me like a tidal wave, rushing toward me with an inexorable slow-motion majesty. And yet I flee, pointless though it may be.
I depart, and my ripples diverge to infinity, like waves smoothing out the footprints of forgotten travellers.
Geoffrey A. Landis, Ripples in the Dirac Sea
Memory is a sharp-edged knife I can’t help but cut myself on, no matter how carefully I wield it.
Laura E. Weymouth, The Light Between Worlds
"... Tôi càng lúc càng rút sâu vào nội tâm, như con thú vùi mình ngủ trong hang vào mùa đông. Tôi nghe thấy tiếng nói của người khác bằng tai, còn tiếng nói của mình, tôi nghe trong cuống họng. Sự cô đơn bao quanh tôi như màn đêm dày đặc miên viễn, như đêm đầy bóng tối dày đặc, dai dẳng, lây lan chờ chụp xuống trên những thành phố yên lặng đã no nê những giấc mơ thèm khát và hiểm thù. Từ điểm nhìn của cái cổ họng này mà tôi nhận ra chính mình, tôi chẳng là gì ngoài một số hữu điển rõ chứng minh trong toán học. Cái sức ép, trong hành vi sinh sản, cầm giữ hai người lại với nhau và họ đang cố gắng trốn khỏi sự cô đơn của mình là kết quả của cùng cái nét điên rồ này vốn tồn tại trong mỗi người, pha lẫn với niềm hối tiếc khi nghĩ đến mình đang dần hướng tới vực thẳm của cái chết...
Chỉ có cái chết không nói dối.
Sự hiện diện của cái chết hủy diệt tất cả những mê tín. Chúng ta là con cái của cái chết và chính cái chết cứu thoát chúng ta khỏi sự lừa dối của cuộc đời. Giữa cuộc đời, nó kêu gọi chúng ta và chiêu tập chúng ta tới nó. Vào một tuổi đời khi còn chưa học ngôn ngữ của loài người, nếu đôi lúc chúng ta ngừng cuộc chơi, chúng ta có thể lắng nghe tiếng nói của cái chết... Suốt cuộc đời, cái chết luôn vẫy gọi chúng ta. Chẳng phải nó đã xảy đến với mọi người một cách bất chợt, vô cớ, lúc mê mải trầm tư và đắm chìm thật sâu trong nó đến nỗi mất ý thức về thời gian và nơi chốn và hoạt động của tâm trí mình? Vào những lúc như thế, người ta phải nỗ lực để hiểu được và nhận ra một lần nữa cái thế giới hiện tượng mà con người sống trong đó. Người ta đang lắng nghe tiếng nói của cái chết."
(CON CÚ MÙ, Sadegh Hedayat, Hà Vũ Trọng dịch)