Lão Tử tinh hoa (Thu Giang Nguyễn Duy Cần)
“Đạo mà không nói ra được, không còn phải là Đạo thường nữa, Danh mà gọi ra được, không còn là Danh thường nữa.” Như vậy, định cho sự vật một cái tên đó chỉ làm cho ta xa với cái “chân diện mục” của chúng, tức là cái chân lý toàn diện của sự vật. (tr36)
Ta há không nhận thấy rằng lòng ta là cả một cái gì mâu thuẫn hay sao? Vừa thương mà cũng vừa không thương, vì trong thâm tâm ta cảm thấy mất tự do khi bắt đầu yêu ai một cách tha thiết (..) Phải chăng vì cảm xúc của ta mà lên đến cực độ lại càng giống nhau không thể phân biệt, nhất là trong sự yêu ghét! (…) Cho nên mới nói: “ghét là bề trái của cái thương” và thương ghét, tựu trung la một. (tr37)
Lão Tử khuyên ta, nếu muốn được Đạo, đừng có nhìn sự vật bằng cặp mắt nhị nguyên chia phân nhĩ ngã, mà phải nhìn thấy thảy đều là một. Con người mà càng chạy theo cái học phân tán sẽ bị tâm hồn rối loạn vì hay phân biệt và biện biệt. (tr37) Cho nên, muốn được Đạo, muốn có hạnh phúc thật sự, phải bỏ cái óc chia phân sự vật. (tr38)
Sau khi cái học của mình về cái học trục vật mà đi đến cùng tột rồi thì con người lại “trở về với Đạo”. Cũng như văn minh vật chất mà đến mức cùng tột rồi, bèn sẽ xoay về tinh thần. (tr48)
Đứa trẻ sơ sinh, không dục vọng, bình thản đối với ngoại vật, nên ngoại vật không động được tâm và làm thương sinh. Cho nên mới nói “độc trùng không cắn được”. (tr52)
Theo Đạo thì phải biết “làm mà không cậy công, công thành rồi không nên ở lại, không để cho ai thấy cái tài hiền của mình.” (tr53) Theo Đạo, thì phải hạ mình, làm kẻ thấp, sống trong bóng tối “không tự xem mình lá sáng…không tự cho mình là phải… không tự hào và khoe khoang.” (tr54) “với kẻ lành, thì lấy lành mà ở, với kẻ chẳng lành, cũng lấy lành mà ở, với kẻ thành tín, thì lấy thành tín mà ở, với kẻ không thành tín, thì cũng lấy thành tín mà ở.” (tr55)
Trong khi theo Khổng thì người trị nước phải hành theo Đạo hữu vi , nghĩa là chế Lễ, tác Nhạc và làm rất nhiều… còn bậc trị nước theo Lão, trái lại, càng làm ít càng hay, và không làm gì cả lại càng tốt hơn! Là vì, theo Lão: việc đời mà đa đoan, việc người mà rối rắm, chẳng phải vì những việc người ta đã lo cho đời quá ít, mà chính vì những việc mà người ta đã lo cho đời quá nhiều (…) Thiên hạ mà nhiều kiêng kị, thì dân chúng càng nghèo. Nhân dân nhiều tài khéo, vật lạ càng nảy sinh. PHáp lệnh càng rõ rệt, trộm cướp càng sinh nhiều (chương 57) (tr59)
“Không tôn bậc hiền tài, khiến cho dân không tranh, không quý của khó đặng, khiến cho dân không trộm cướp, không phô điều muốn, khiến lòng dân không loạn. (60)
Cái đạo trị nước hay nhất để đem lại hạnh phúc cho nhân dân là đưa họ trở về một đời sống thật thà và giản dị. (61)
Bậc thượng thiện, giống như nước, nước thì ưa làm lợi cho vạn vật mà không tranh. Ở thì hay lựa chỗ thấp, lòng thì chịu chỗ thâm sâu, xử thế thì thích lòng nhân, nói ra thì trung thành không sai chạy, sửa trị thì chịu làm cho được thái bình. Làm việc thì hợp với tài năng, cử động thì hợp với thời buổi. Ôi vì không làm nên không sao lầm lỗi. (tr73)
Cái vô dụng bao giờ cũng có chỗ đại dụng của nó (…) cái ý là cái vô của lời nói. (84)
Những cái mà ta thường gọi là nhân, nghĩa, thánh, trí… đều là những đức tính của kẻ đã làm mất Đạo (…) vì bậc chí nhân là kẻ “pháp thiên, pháp Đạo, pháp tự nhiên” tức là kẻ sống theo Đạo, theo tự nhiên. Còn lấy nhân lấy nghĩa mà xử với nhau, là vì còn thấy Đó không phải là Đây, Đây không phải là Đó, nghĩa là còn thấy chia lìa nhau, đó là nhãn kiến nhị nguyên, chưa phải nhận thức của con người hỗn hợp cùng với Đạo thể. (91)
Theo học càng ngay càng tăng, theo Đạo càng ngày càng giảm. Tăng cái gì, tăng sự phiền phức rườm rà chi ly vụn vặt. Trái lại, kẻ theo cái học về Đạo, thì trở về nguồn gốc, nên càng ngày càng tiết giảm những cái vụn vặt chi ly vô cùng phiền phức, và đồng thời dục vọng càng ngày càng giảm thêm…đến mức vô vi. (chương 48) (tr94)
Lớn là tràn khắp, tràn khắp là đi xa, đi xa là trở về, có nghĩa là bất cứ sự vật nào trên đời hễ phát đạt bành trướng đến cực điểm sẽ bị đại biến. (103)
Nếu phải làm thì nên trừ khử những gì thái quá vì: nhón gót lên thì không đứng vững, xoạc chân ra thì không bước được. (104)
Phàm muốn một việc gì thái quá, trái lại phải gặt lấy những kết quả trái ngược với lòng mong muốn của ta (…) Bất cứ một tình cảm và dục vọng nào cũng đều có ba giai đoạn: khao khát, chiếm đoạt và chê chán (…) Không bao giờ nên để có sự dư thừa mà lại cần phải có sự bớt đi (…) sự thiều thốn trong đời người, làm cho con người dễ trở nên thanh cao hơn là sự quá đủ, quá thừa. (106-107)
Hành động tự nhiên theo Lão Tử lại cũng có nghĩa là hốt nhiên mà làm, không cố gắng, không miễn cưỡng, không cân nhắc, nghĩa là hành động đã đến mức vô tâm… không còn lệ thuộc đến một nguyên tắc hay phạm vi nhất định nào của luân lý đạo đức hay giáo lý nào bên ngoài nữa cả. (119)
Khổng học nhắm con người vào việc uốn nắn con người theo một thể thức nhất định, theo những qui tắc hẹp hòi và cứng rắn của xã hội, và công việc ấy dĩ nhiên không sao tránh khỏi những va chạm vào đời sống cá nhân, gây tranh chấp khổ đau cho cá nhân, gây nơi tâm hồn họ nhiều mặc cảm tai hại, gây cho những con người sống trong những xã hội văn minh giả tạo ấy mất cả tính thành thực hồn nhiên và ngây thơ của con trẻ. Vai trò của Lão học, trái lại, phát huy cái đức hồn nhiên, thực thà thường gọi là tự nhiên, nghĩa là trở lại với cái người thật của mình. (124)
Vì khuynh hướng của Lão học là thiên về tự nhiên, cho nên người ta thấy phần đông các nhà Đạo học đều là những người thích sống trong cảnh thiên nhiên hơn là sống giữa đời sống giả tạo của con người và tránh xa phiền lụy vì những buộc ràng của nghi lễ… Giữa tạo vật thiên nhiên người ta cảm thấy tâm hồn thư thái, cởi mở… Dù văn minh nhân tạo có hùng vĩ đến đâu cũng không sao hùng vĩ bằng cái hùng vĩ của thiên nhiên, và những người gần với cái học của Lão – Trang phần nhiều là những thi sĩ và nghệ sĩ có một tâm trạng huyền đồng cùng tạo vật. (128)
Nhu nhược có nghĩa là uyển chuyển, không cố chấp trong một hình thức cố định nào, dù thuộc về tâm lý, tình cảm hay tư tưởng (…) Bởi vậy, người theo đạo giải thoát rất sợ lối tư tưởng theo thành kiến, theo thói quen, theo tập niệm, thường nô lệ theo một bảng giá trị bất cứ thuộc về một hệ thống tư tưởng, đạo đức, luân lý hay tôn giáo nào. (142)
Không có một “thói quen” nào là hay cả đối với tư tưởng. Cho nên kẻ muốn đi đến giải thoát, bước đầu tiên là tự mình phá hủy tất cả mọi thành kiến bất cứ thuộc về giới nào. (143)
Sự hiểu biếut ủa ta phải tự ta tìm lấy, không thể do kẻ khác truyền dạy. Là tại sao? Có dạy được chăng là vì nơi người đã có sẵn mầm tư tưởng mà ta muốn truyền đạt (…) Như vậy thì không ai có thể dạy ai được; ta chỉ khêu gợi được những gì có sẵn nơi tâm trí kẻ khác mà thôi (…) Người thông đạt là kẻ giúp cho người suy nghĩ, chứ không phải là người suy nghĩ thế cho người. (151)
Lão Tử khuyên ta “ăn ở giản dị, tự nhiên, ít riêng tư, ít tham dục, không nên tích trữ cho mình, lo riêng cho mình gì cả.” (175)














