Bậc quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú: biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẩy, còn cáo thì lại không thể chống lại sói. Vì thế cần phải là cáo để nhận ra những cạm bẩy và là sư tử để dọa sói.”
Quân Vương chủ yếu nói về thuật trị nước và thuật hưng quốc, là cẩm nang để nhà cầm quyền củng cố địa vị, quyền lực với vấn đề trung tâm là bàn về thủ thuật chính trị. Đây là cuốn sách kinh điển, chuyên luận bàn về nhà nước, phẩm chất và các thủ thuật chính trị của những người đứng đầu nhà nước. Có thể nói, Quân Vương là tác phẩm đầu tiên đặt nền tảng cho ngành chính trị học hiện đại.
Quân Vương là tác phẩm kinh điển đầu tiên của chính trị học, cuốn sách gối đầu giường của bao thế hệ chính trị gia và lãnh đạo khắp thế giới.
Những điều Machiavelli viết trong tác phẩm này có thể làm say mê bất kỳ ai, từ những bậc quân vương, những chính khách, những nhà hành pháp cho tới những người dân bình thường nhất vì Quân vương không chỉ là một cuốn sách về các biện pháp chính trị, ngoại giao mà còn là một cuốn sách về con người.
Cuốn sách thực sự đáng xem với tất cả những ai quan tâm đến chính trị, thuật trị nước và trị người!
Cuốn sách này không thực sự nhằm vào một đối tượng nào. Khi viết sách này, tác giả không quan tâm phục vụ hoặc chống lại bất kỳ phe phái nào. Tác giả tìm cách hiểu thấu vấn đề không theo cách làm cho nó khác đi mà theo cách nhìn xa hơn các phe phái. Và trong khi các phe phái lo toan đến ngày mai thì tôi muốn lo nghĩ cho tương lai.
Theo tác giả, nền dân trị hứa hẹn được những gì cho tương lai là tuỳ thuộc vào yếu tố quyết định: tinh thần trách nhiệm của các công dân đối với cộng đồng. Từ đó, ông đặt ra hàng loạt vấn đề còn nóng bỏng tính thời sự:
- Nên mạnh dạn thực hiện nền dân trí đến đâu?
- Làm thế nào để hợp nhất sự tham gia của toàn dân với thể chế chính trị đại diện?
- Xã hội hiện đại đứng trước nguy cơ nào khi sự thờ ơ, tính phi chính trị và xu hướng trở về với cuộc sống riêng tư ngày càng gia tăng trong nhân dân?
- Làm sao cân đối được mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế, giữa cá nhân và xã hội: hay nói cách khác, giữa tự do và bình đẳng?
This paintings was painted in 1907. It was called the most innovative painting since the work of Giotto, when Les Demoiselles d’Avignon first appeared it was as if the art world had collapsed. Known form and respresnetation were completely abandon. The reductionism and contortion of space in the painiting was incredible, and dislocation of faces explosive. Like any revolution, the shock waves reverbetrated and the inevitable outcome was Cubism.
Đáng ra chuyến đi này đã có tên “vùng chiều miền biên”, nhưng cuối cùng nó lại có tên “kẻ bên lề”, khoảnh khắc nhảy vọt từ cái tên thứ nhất sang cái tên thứ hai có thể tạm gọi thô sơ là một giới hạn, một vùng biên, một vùng đệm, một lằn ranh, nơi ngự trị của những kẻ bên lề.
Nhưng xin đừng vội vã bám ngay vào các ý niệm kể trên. Hãy quên hết những thứ đã được gọi tên một cách hẳn hoi đó đi. Như người ta phải quên lãng cái ngón tay chỉ trăng của đức Phật, khi đã nhìn thấy ánh sáng ảo diệu của vầng trăng. Hãy chỉ dừng lại ở cái khoảnh khắc cổng trời. Chìm đắm vào nó, đừng định nghĩa, đừng suy tưởng.
Hãy dừng lại và chỉ dừng lại trong giây lát thôi, vậy là đủ.
Thật ra là bi kịch. Dù có dừng lại lâu hơn thì cái thời đại bây giờ, thời đại ngày nay chẳng có mấy người đủ trầm tư mặc tưởng để lĩnh hội cái khoảnh khắc cổng trời đó. Người ta, đa số thiên hạ sẽ lại gán bừa gán bãi cho vài cái ý niệm, vài cái biểu tượng, vài cái lù lù chết khô nào đó. Cái giống người máy móc, chết khô héo úa của thời nay làm sao đủ thần tinh trực tính để lãnh hội cái khoảnh khắc cổng trời. Họ có đủ thì làm sao Nietzche đã phải điên như thế? Bùi Giáng đã phải Búi Giàng Bùi như thế? Martin Heidegger đâu phải câm lặng lâu như thế?
Họ chẳng có đủ. Mikhail Bakhtin lĩnh hội được cái vùng ngoại vi đã thực là khá, khá lắm. Loài người còn quá man rợ, mới khá có chừng đó thôi mà ông ta đã phải lưu đày 5 năm, câm lặng hơn 30 năm rồi đấy. Thử hỏi sao không bảo loài người còn man di mọi rợ cho được?
Bi kịch của những kẻ đi bên lề là thế. Cái thời đại ngày nay hay cái thời đại ngày xưa đều thế cả. Chẳng cứ phương Đông, chẳng cứ phương Tây, “chữ tài chữ mệnh” đều “khéo là ghét nhau” hết thảy.
Nhưng cũng chưa thật đến nỗi quá là bi đát. Nếu có một vị gọi là thượng đế thật thì vị đó quả cũng còn ghì giữ dăm ba cái ưu ái cho loài người, nên thời nào cũng vậy, vẫn có những đấng xả thân, những vị sáng thế, cam phận người dưng, giữ nghiêm vì cô độc, mà giương buồm vượt sóng đi từ chân trời này đến chân trời khác, từ giới hạn nọ đến giới hạn kia, mà mở mang, mà khai phá cho cái cõi trần ai này được không ngừng vươn tới.
Những kẻ đó, những kẻ thách thức những giới hạn đó, những kẻ tuyên xưng, công bố các giá trị mới đó, họ là những kẻ đi bên lề. Họ, những kẻ chìm đắm sâu nhất vào trong cuộc trần ai, lại là những kẻ cô độc nhất. Họ, những kẻ tan chảy trọn vẹn nhất vào thực tại, yêu đến cuồng si thực tại, nhưng lại đích thực là những kẻ đầu tiên bị đẩy vào thế giới tương lai.
Họ, chính là những đấng tiên tri đã dẫn loài người qua những khoảng khắc cổng trời, qua những hố đen vũ trụ.
Vì họ, xin loài người hãy tôn vinh nỗi cô đơn, tôn vinh đau khổ, tôn vinh những sa mạc khô cằn, những đại dương hung tợn, những chóp núi hiểm nguy.
Và loài người sẽ được cùng sánh bước với họ, những đấng tiên tri, qua khoảnh khắc cổng trời.
Con trai biết không, ba đã từng nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ lấy vợ và có con. Khi đó ba chừng 24-25 tuổi. Khi đó ba đã nhìn thấy sự phi lý vô cùng của cuộc sống. Sự phi lý khắp nơi, sự phi lý bủa vây quanh mình. Ba đã bế tắc và tuyệt vọng.
Mỗi buổi sáng đi làm, mỗi khi chạy xe qua cầu Chương Dương, ba đều nghĩ về sự tuyệt vọng này.
Cuộc đời này quá ư phi lý. Nếu ta thực sự muốn sống sao cho có ý nghĩa, ta sẽ phải đi ngược đám đông, ta sẽ cô đơn, khổ đau và bị đày đọa. Ngược lại nếu ta cố gắng sống theo cái lý lẽ của số đông, sống một cách dường như có lý, ta sẽ chỉ có một cuộc đời mờ nhạt và vô nghĩa.
Rồi ngày nào đó lớn lên con sẽ hiểu sự phức tạp này. Cũng có thể ba đã sai, hy vọng ba sai ở điều này để con không phải chịu những cảm giác như ba đã hứng chịu.
Nhưng chuyện đó hãy để sau. Hãy quay trở lại với những suy nghĩ lúc trước của ba. Thực sự ba không biết bằng cách nào ba đã thoát ra khỏi nó. Chỉ biết một ngày kia, ba nghĩ rằng, dù gì trái đất vẫn quay, cuộc sống vẫn tiếp tục theo cái lý lẽ riêng của nó, đôi khi đó là lý lẽ của sự vô lý. Nhưng ta có thể từ chối sống được không? Được và không được. Từ chối sống thật đơn giản. Đã nhiều người làm. “Nhưng đó là hèn yếu. Sống đối mặt với mọi sự phi lý, mọi khổ đau, khắc nghiệt đó mới là sống xứng danh xưng con người”, ba đã nghĩ thế.
Và ba quyết phải sống cho xứng cái danh xưng con người. Và ba đã gặp mẹ con. Và con đã ra đời.
Ba đã từng sống với ý nghĩ “ngày mai sẽ chết”, nhưng giờ đây, với con trai của mình, ba sống với ý nghĩ “cuộc đời là vĩnh cửu”. Có thể ba đã chuyển từ cực đoan này sang cực đoan khác. Có thể sau này ba sẽ nghĩ khác, nhưng điều đó có hề chi, vì ít nhất, ba đã học được một thứ vô cùng quan trọng mà trước khi có con ba không thể nào hiểu hết, đó là hai chữ: “trách nhiệm”.
Con là một cuộc đời khác, một cuộc đời mới, cuộc đời thứ hai, cuộc đời vĩnh cửu của ba. Vì có con, vì có những đứa con mà cuộc đời ba, cuộc đời mỗi ông bố bà mẹ như ba là vĩnh cửu. Vì cuộc đời là vĩnh cửu, vì cuộc sống là tiếp diễn không ngừng, mà ba và tất cả những người làm bố làm mẹ khác phải có TRÁCH NHIỆM làm cho xã hội này ngày càng tốt đẹp hơn, thế giới này ngày càng tốt đẹp hơn. Đó là thế giới mà con, cho các con sẽ sống. Và đến lượt mình, các con cũng sẽ tiếp tục gánh vác trách nhiệm nặng như thế, có phải không?
Đừng lo lắng hay sợ hãi, ba sẽ không đặt bất cứ gánh nặng nào lên vai con. Đó là suy nghĩ của ba, có thể con nghĩ khác, như chính ba đã không bao giờ nghĩ giống ông nội con. Hơn nữa, một trong những thứ mà ba, thế hệ ba muốn làm được cho các con, thứ mà ba, thế hệ ba mẹ chưa từng khi nào được nếm trải trọn vẹn đó là tự do, là phẩm giá con người. Ba, thế hệ ba sẽ sống, hành động để mang những thứ đó cho con, thế hệ các con.
Vậy nên con đừng lo lắng là ba sẽ đặt như kỳ vọng hay áp lực lên con vì suy nghĩ con là cuộc đời tiếp nối của ba. “Con hoàn toàn tự do”, ba hứa!
Có khi nào bạn tự hỏi về những điều phi lý bình thường đang diễn ra quanh cuộc sống của bạn?
Thằng con gần ba tuổi của đã phải ở lớp học suốt 12 tiếng đồng hồ một ngày và 6 ngày một tuần. Hoàn cảnh của nó không khác những đứa trẻ khác, có bố, mẹ đi làm, tức là không thất nghiệp, tức là ở một trạng thái tốt của xã hội. Vâng! Tốt! Nhưng thế nào là tốt. Như vậy có tốt không, khi thằng bé chưa đến 3 tuổi phải rời nhà lúc 7 giờ sáng và chỉ trở về nhà gặp gỡ bố mẹ nó vào lúc 7 giờ tối hàng ngày?
Như vậy có thực sự là tốt không?
Tôi không biết, tôi thấy có gì đó không ổn, thực sự không ổn trong cách chúng ta đang vận hành cái xã hội này. To tát quá? Không, không có gì là to tát cả. Nhưng có lẽ chúng ta đang sai ở đâu đó. Cần phải làm gì đó để thay đổi. Một mình tôi có làm được không? Tôi sẽ nghỉ việc chăng? Vợ tôi sẽ nghỉ việc chăng? Chúng tôi sẽ có nhiều thời gian cho thằng bế hơn chăng? Vợ tôi thường nói với nó: “Con phải ngoan đi học để ba mẹ đi làm, mới có tiền mua sữa, mua đồ chơi cho con chứ!” Cô ấy nói với nó như thế mỗi khi nó không chịu đi học.
Tôi cũng không biết cô ấy nói vậy có đúng không. Tôi không dám chỉ trích hay phản đối, nhưng cũng không thể nói là đồng ý hoàn toàn với cách nói đó. Có lẽ tôi dở hơi. Tôi không biết có ông bố bà mẹ nào có ý nghĩ dở hơi như tôi không. Nhưng tôi nghĩ như vậy thật đó.
Nhìn những đứa trẻ hàng xóm, những anh những chị của con tôi, những đứa học tiểu học, học cấp hai, cấp ba. Hàng ngày chúng đến lớp, tối tối về nhà đối diện với 4 bức tường, với màn hình máy tính, tivi, ipad… tôi cảm thấy bọn trẻ bây giờ thật thiệt thòi và khổ sở. Ở tuổi này ngày xưa tôi, thế hệ chúng tôi tha hồ tự do, bay nhảy, như những con thú hoang, khỏe khoắn, bạo dạn và tự do.
Quý vị phụ huynh hãy thử nhớ lại xem, tuổi thơ của mình, và nhìn lại đi, tuổi thơ của con em mình. Các vị có thấy có lỗi không? Tôi thì có, tôi thấy đầy lầm lỗi và day dứt.
Có lẽ tôi dở hơi thật. Khi nghe tin Sở Giáo dục & Đào tạo TP HCM có kế hoạch đưa các trò chơi dân gian vào trường học, tôi đã suýt bật khóc. “Vậy là có thể con mình có hy vọng rồi” – tôi đã nghĩ thế. Bọn trẻ bây giờ bị chìm ngập trong các phương tiện nghe nhìn, điện tử, điều này không hẳn không có cái tốt, nhưng cái xấu thì chắc nhiều hơn. Bọn chúng sẽ học được cái gì từ những trò chơi điện tử, những bộ phim hay kể cả những trò xếp hình lego… trên máy tính? Tôi nghĩ bọn trẻ cần vận động nhiều hơn. Cần gắn bó trải nghiệm với tự nhiên nhiều hơn. Cần quan hệ với tha nhân, tức là những bạn bè đồng trang lứa nhiều hơn. Những cái đó, các phương tiện công nghệ không cho chúng, nhưng những trò chơi dân gian, như chơi ô ăn quan, nhảy dây, đánh khăng, đánh cù… sẽ cho chúng. Tôi đã nghĩ thế và tôi đã suýt rơi nước mắt khi nghĩ con mình một ngày nào đó sẽ chơi lại những trò này.
Có thể tôi dở hơi.
Đông San (*)
(*) Bài đã đăng trên báo TGTT dưới bút danh Thiện Thanh
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại cáo chung khái niệm cá nhân độc lập hay đúng hơn phải nói rằng thời đại mà cá nhân không còn ảo tưởng là mình độc lập nữa. Nhưng khi nói về văn chương và nhất là về phê bình thì ta mặc nhiên coi cá nhân là độc lập. Toàn bộ nền văn chương đương đại châu Âu, ý tôi muốn nói nền văn chương được hình thành trong suốt bốn trăm năm qua, được xây dựng trên nguyên tắc trung thực về tri thức, hay có thể nói theo Shakespear: “Hãy trung thực với chính mình”. Việc đầu tiên ta đòi hỏi ở nhà văn là không được dối trá, chỉ nói những điều anh ta thực sự nghĩ, thực sự cảm nhận được. Điều tệ hại nhất đối với một tác phẩm nghệ thuật là khi nó bị coi là không thật (insincere). Điều này còn đúng đối với lĩnh vực phê bình hơn là lĩnh vực sáng tác, trong sáng tác thì một ít phô trương, một ít điệu bộ và ngay cả nếu có một phần giả trá thực sự thì điều đó cũng không thật sự quan trọng, miễn là nhà văn trung thực trong những điểm chính yếu. Nền văn học đương đại thực chất là sáng tạo mang tính cá nhân.
Hoặc là nó chuyển tải được suy nghĩ và tình cảm của cá nhân hoặc chẳng là gì hết.
Như tôi đã nói, ta coi điều đó là đương nhiên, nhưng chỉ cần ta phát ngôn ý nghĩ đó thành lời thì ta sẽ thấy ngay mối nguy hiểm đang treo trên đầu văn chương. Đây là thời đại của nhà nước toàn trị, một nhà nước không cho, hay phải nói không thể cho cá nhân bất kì một sự tự do nào. Khi nói đến chế độ toàn trị ta thường nghĩ đến nước Đức, nước Nga, nước Ý, nhưng tôi cho rằng ta phải sẵn sàng đối mặt với hiện tượng đang có xu hướng mở rộng ra toàn thế giới này. Rõ ràng là giai đọan của chủ nghĩa tư bản tự do đang cáo chung và ngày càng có nhiều nước áp dụng nền kinh tế tập trung, có thể gọi là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản nhà nước, tùy khẩu vị từng người. Điều đó đặt dấu chấm hết cho sự tự do về kinh tế của cá nhân và cùng với nó, tự do lựa chọn công việc mình thích, tự do chọn nghề mình thích, tự do đi đến bất cứ nơi nào mình thích cũng sẽ không còn. Cho đến tận thời gian gần đây chúng ta vẫn chưa thấy được hậu quả của những biến đổi đó. Chúng ta chưa thật sự hiểu việc mất tự do về kinh tế sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tự do về tri thức. Chủ nghĩa xã hội vẫn được coi là một chế độ tự do được ông Thiện nâng đỡ. Nhà nước sẽ lo cho bạn về kinh tế, tránh cho bạn khỏi nỗi sợ nghèo, sợ mất việc và nhiều nỗi sợ hãi khác, mà sẽ không có nhu cầu can thiệp vào đời sống tinh thần của bạn. Nghệ thuật sẽ nở rộ như thời còn chủ nghĩa tư bản tự do, mà có thể hơn vì người nghệ sĩ không còn bị miếng cơm manh áo thúc bách nữa.
Nhưng sự thật nhãn tiền buộc ta phải nhận rằng đấy là những quan niệm sai. Chế độ toàn trị đã can thiệp vào lĩnh vực tự do tư tưởng ở mức độ chưa từng có trước đây. Điều quan trọng mà ta phải nhớ là nhà nước toàn trị kiểm soát tư tưởng không phải chỉ với mục đích cấm đoán mà cả với mục đích xây dựng nữa. Chế độ ấy không chỉ cấm bạn nói hay viết, thậm chí suy nghĩ, về một số ý kiến nào đó; nó còn chỉ cho bạn điều cần phải suy nghĩ, nó tạo cho bạn một hệ tư tưởng, nó tìm mọi cách kiểm soát đời sống tình cảm của bạn cũng như đặt ra những tiêu chuẩn đạo đức mà bạn phải theo. Nó tìm mọi cách để cách li bạn với thế giới bên ngoài, nó nhốt bạn vào một thế giới giả tạo để bạn không còn tiêu chuẩn nào mà so sánh nữa. Nhà nước toàn trị nhất định sẽ tìm mọi cách để kiểm soát tư tưởng và tình cảm của các thần dân cũng hữu hiệu như kiểm soát hành vi của họ.
Vấn đề quan trọng đối với chúng ta là: Văn chương có sống được trong tình hình như vậy không? Tôi nghĩ rằng ta có thể trả lời một cách ngắn gọn là: không. Nếu chế độ toàn trị trở thành hiện tượng toàn cầu và vĩnh viễn thì cái mà chúng ta vẫn gọi là văn chương sẽ cáo chung. Chẳng nên khẳng định, như ban đầu ta tưởng, rằng sẽ chỉ cáo chung một loại hình văn chương, mà cụ thể là loại do châu Âu tạo ra sau thời Phục Hưng.
Có những sự khác nhau căn bản giữa chế độ toàn trị với tất cả các chế độ chính thống trong quá khứ, cả ở châu Âu và ở phương Đông. Điều đặc biệt quan trọng là các chế độ chính thống trong quá khứ không thay đổi, hay ít nhất cũng thay đổi một cách chậm chạp. Nhà thờ ở châu Âu thời trung cổ buộc bạn vào một tín số điều, nhưng ít nhất nó cũng cho phép bạn giữ những tín điều ấy từ lúc lọt lòng cho đến lúc chết. Nó không bao giờ bảo bạn thứ hai phải tin một điều, thứ ba lại phải tin vào một điều hoàn toàn khác. Tình hình cũng tương tự như vậy đối với các tín đồ đạo Công giáo, đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi ngày nay. Trong một ý nghĩa nào đó thì tư tưởng của các tín đồ bị giới hạn, nhưng họ sẽ sống suốt đời trong những giới hạn tư tưởng đó. Không ai can thiệp vào lĩnh vực tình cảm của họ.
Chế độ toàn trị hoàn toàn ngược lại. Đặc trưng của nhà nước toàn trị là tuy nó kiểm soát tư tưởng, nhưng nó lại không xác dịnh dứt khoát tư tưởng ấy là gì. Nó đưa ra một số tín điều không được tranh cãi, nhưng các tín điều ấy lại thay đổi hàng ngày. Chế độ cần tín điều vì cần các thần dân phục tùng một cách tuyệt đối, nhưng nó không thể không thay đổi theo các nhu cầu của tầng lớp nắm quyền. Khi tuyên bố là không bao giờ sai lầm, chế độ toàn trị đồng thời vất bỏ ngay chính khái niệm chân lí khách quan. Một thí dụ rõ ràng và đơn giản: cho đến tháng 9 năm 1939 [2] mọi người Đức đều phải coi nước Nga Bolsevich là một chế độ tàn ác và đáng khinh, nhưng sau tháng 9 năm 1939 lại phải coi Nga là đáng phục và đáng yêu. Nếu Nga và Đức đánh nhau, có khả năng là chuyện đó sẽ xảy ra trong một hai năm nữa, thì một sự thay đổi đột ngột ngược lại sẽ xảy ra. Đời sống tình cảm của một người Đức, tình yêu, lòng căm thù của anh ta, khi cần có thể đảo ngược lại hoàn toàn chỉ trong một đêm. Có lẽ chẳng cần phải nói điều đó có ảnh hưởng như thế nào đối với văn chương. Vì sáng tạo trước hết là cảm, mà tình cảm thì không phải lúc nào cũng có thể kiểm soát được từ bên ngoài. Dễ dàng xác định cách hành xử theo lối đãi bôi đối với hệ tư tưởng chính thống, nhưng một tác phẩm văn chương chỉ có giá trị khi người viết cảm thấy chính sự thật mà anh ta đang viết, không có cái đó thì bản năng sáng tạo cũng sẽ không còn. Kinh nghiệm lại chứng tỏ rằng việc thay đổi tình cảm một cách đột ngột, như các chế độ toàn trị đòi hỏi ở các thần dân, là bất khả thi về mặt tâm lí. Đấy chính là lí do khi tôi giả định rằng nếu chủ nghĩa toàn trị giành được thắng lợi trên toàn thế giới thì cái mà chúng ta vẫn gọi là văn chương sẽ cáo chung. Trong thực tế, cho đến nay chủ nghĩa toàn trị đã tạo ra chính hiện tượng ấy. Ở Ý văn chương đã bị vật cho đến què quặt, còn ở Đức thì gần như không còn. Ngay ở nước Nga, nơi một sự phục hưng văn chương như chúng ta từng kì vọng đã không xảy ra, và xu hướng chính ở đấy đang là: các nhà văn có tiếng hoặc là tự sát hoặc biến mất trong các nhà tù.
Như tôi đã nói, chủ nghĩa tư bản tự do đang cáo chung và như vậy cũng có thể rút ra kết luận là tự do tư tưởng chắc chắn cũng sẽ cáo chung. Nhưng tôi không tin là điều đó nhất định sẽ xảy ra, và để kết luận tôi xin nói tôi tin rằng văn chương sẽ đứng vững ở những nước mà tư tưởng tự do đã ăn sâu, bén rễ, thí dụ như ở Tây Âu, châu Mĩ, Ấn Độ, Trung Quốc. Tôi tin, có thể đấy chỉ là một niềm tin mù quáng, rằng nếu kinh tế tập thể là điều không thể tránh thì các nước đó sẽ học được cách thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa không toàn trị, nơi tự do tư tưởng vẫn còn sau khi cá nhân đã không còn được tự do về kinh tế nữa. Dù sao mặc lòng, đấy cũng là niềm tin duy nhất cho những người yêu quí văn chương có thể dựa vào. Những ai hiểu được giá trị của văn chương, những ai nhìn thấy vai trò chủ đạo của nó trong sự phát triển của lịch sử nhân loại, phải nhận thức được rằng giáng trả chủ nghĩa toàn trị, dù nó được áp đặt từ bên trong hay từ bên ngoài chính là đòi hỏi sống còn.
Phạm Minh Ngọc - dịch và chú thích
[1] – Đây là những buổi nói chuyện của G. Orwell phát trên đài BBC, bắt đầu từ ngày 19 tháng 6 năm 1941.
[2] – Đây là nói thời điểm kí hiệp ước hoà bình Xô – Đức, thường gọi là hiệp ước Molotov-Ribentrov.
Tham luận Triết gia và Thi sĩ – Nhà nghiên cứu Triết học Bùi Văn Nam Sơn nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của cố thi sĩ Bùi Giáng tại trường Đại học KHXH&NV TP.HCM vào ngày 14-09-2013.
từ tro tàn phượng hoàng lại bay lên,
cuộc sống bao đời vẫn giữ nguyên ngôi lời của nó,
lời căm phẫn, lời bi ai,
lời than khóc triệu ngàn năm nhân loại.
chỉ riêng ta,
lặng lẽ ngậm cười.
từ tro tàn con phượng hoàng lại bay lên,
cuộc sống ngàn đời không thể biết chân trời nào là cuối.
Cái buổi hôm nay,
trên đất nước chúng ta,
Việt Nam – hình chữ S,
từ bất cứ ngõ ngách nào của làng xóm, phố phường,
của cuộc sống, của cuộc đời, của thẳm sâu tâm hồn mỗi con người (nếu nó còn tồn tại),
ta chỉ thấy những hoang tàn, đổ vỡ, những tàn tro, sương khói,
những hoàng hôn tím tái dại tê.
phượng hoàng ơi mi ở nơi đâu?
Họ đã cơ bản phá xong rừng (*)
50 – 100 năm nữa ta sẽ có lại, nếu bắt đầu từ bây giờ khởi sinh.
Họ cũng đã cơ bản phá xong tinh thần quốc gia, đạo đức dân tộc, những giá trị cao quý cộng đồng.
10 năm nữa, 20 năm nữa, 50 năm nữa, 100 năm nữa…
cũng có thể ta sẽ không bao giờ có lại được nữa…
Họ.
Ta sẽ dừng lại, không nói đến họ nữa.
Ta sẽ giẫm lên đống tro tàn là họ,
như con phượng hoàng ngạo nghễ bay lên.