Tóm tắt sách Nhập môn Triết học Đông phương của Nguyễn Duy Cần
Vào ngưỡng cửa triết học nhất nguyên phải biết đặt lại bất cứ giá trị nào từ xưa đến nay, từ bất kì đâu. Muốn có óc triết học thì phải dám hoài nghi. Hoài nghi đây là hoài nghi triết học, không phải là óc đa nghi, óc chống đối: bất cứ cái gì cũng chống đối nghi ngờ. Hoài nghi ở đây là không vội vã chấp nhận, tin mà phòng, xem xét lại mọi giá trị của việc đời đến khi mình hiểu rõ ngọn ngành (*). Phương pháp phê bình sử học rất cần là vậy.
Muốn có óc hoài nghi triết học, trước hết phải có 4 thứ này:
Nhìn đời bằng cặp mắt mới lạ. Đôi mắt của trẻ thơ có thể nhìn sự vật như mới. Có hai cách thán thưởng:
- Thán thưởng tiêu cực: bị ép buộc mà phải nhìn và ngẫm sự việc. Như người ở quê lên thành phố thấy bao điều mới lạ.
- Thán thưởng tích cực: đặt câu hỏi, nêu nghi vấn. Là cả một nghệ thuật khêu gợi mà bao hiền giả phương Đông sử dụng.
2. Óc tế nhị (óc tinh nhuệ)
Dùng óc tế nhị vì không còn suy tính được nữa mà chỉ có thể cảm mà thôi. Giúp ta thấy được sự liền lạc của sự vật.
Để có óc tinh nhuệ, đầu tiên phải để ý đến con người mình. Cái học về mình là quan trọng nhất. Cần suy nghĩ nghiền ngẫm đến con người nói chung và của mình nói riêng, tìm hiểu một cách sâu sắc, tinh tế những tình cảm, suy tư và hành động , dù là nhỏ nhặt nhất. Phải để ý quan sát, tìm hiểu ý nghĩa của từng cử chỉ vô / ý thức của con người trong khi mình giao thiệp với họ, từ tiếng cười câu nói, ngay trong cái lặng thinh hay cái liếc mắt . . . đều giúp ta hiểu được những sâu kín của tâm hồn. Cũng cần rút thêm kinh nghiệm của những người khác ở những bộ tiểu thuyết danh tiếng.
3. Óc nhân quả (óc tâm lý)
Có biết đặng nguyên nhân, mới biết rành sự việc.
Không có cái gì ngẫu nhiên cả: thảy đều có lý do của nó. Không những lý do cụ thể mà còn có lý do vô hình, cái mà nhà phân tâm học gọi là "mặc cảm" nằm trong những coi tăm tối u khuất nhất của tâm hồn. Trước hiện tượng, nhà triết học liền nghĩ: "Tại sao?"
Nhìn sự vật bằng con mắt bao trùm tất cả mọi vật, thấy tổng quát mọi vấn đề.
Chương I
I. Điều cần biết trước khi đi sâu
1) Dùng danh từ "triết học Đông phương" là miễn cưỡng, phải gọi là Đạo học. Danh từ thuộc về tương đối, không có danh từ nào là đúng sự thật cả.
2) Nhị nguyên luận là nhìn thấy ta và người khác nhau. Thiện và Ác khác nhau, Tâm và Vật khác nhau, Tịnh và Động khác nhau ...
II. Định nghĩa danh từ triết học
Chữ "triết" du nhập vào Đông phương từ chữ "philosophia" của Tây phương Hy Lạp.
"Triết", nguyên tự là chữ "chiết" (do "thủ" là bàn tay và chữ "cân" là cái búa, có nghĩa là chặt, chẻ). "Triết" là chia phân một sự vật ra từng yếu tố, phần tử cấu tạo, để tìm lẽ nhiệm mầu. Do đó chữ "triết" diễn được ý niệm của triết học Tây phương hiện đại thiên về phân tích, phương pháp cách vật của Nho gia, cắt sự vật ra từng mảnh.
--> Chữ "triết" dùng ám chỉ tư tưởng nhất nguyên là phiến diện.
Chữ Đạo gồm hai phần: "xước" nghĩa là "đi", tượng trưng nguyên lý động/ dương, "thủ" là đầu, bộ phận tương đối bất động của nhân thân, tượng trưng nguyên lý tịnh/ âm. "Thủ" cũng tượng trưng sự tròn của đầu, "xước" tượng trưng sự vuông của bàn chân. Trời thì tròn, đất thì vuông.
--> Đạo nắm mọi cặp mâu thuẫn là Thiện và Ác, Thị và Phi, Vinh và Nhục, Sáng và Tối ...
Tóm lại, triết học thuộc nhị nguyên luận, Đạo học thuộc nhất nguyên luận. Đông phương thiên về Đạo học, Tây phương thiên về triết học. Nhưng không có bên nào tuyệt đối nhất nguyên hay nhị nguyên.
III. Đông phương và Tây phương
Tây phương cổ đại có nhiều điểm giống Đông phương, căn cứ vào sự tận thiện (perfection) làm lý tưởng, thấy ngay khi so sách cái học của Socrates và Khổng Tử, cái học của Hecralite, Lão và Phật về sự bình đẳng của thiện ác, thị phi, v.v ...
Văn minh bắt nguồn nơi văn hóa, và văn hóa Tây phương, trước ngày nhiễm văn minh cơ giới và tin tưởng thuyết Tiến hóa, cũng không khác mấy văn hóa cổ truyền Đông phương nên phong độ đạo đức cùng tư tưởng phảng phất nhau.
Ngày nay, khoa nguyên tử học sẽ giúp người Tây phương hiểu được dễ dàng truyền thống đạo học Đông phương
IV. Văn minh "phẩm" và văn minh "lượng"
Văn minh mà thiên hạ ngày nay tôn sùng và đeo đuổi là văn minh "lượng" lấy "tiến bộ" làm lý tưởng, là văn minh Tây phương hiện đại, còn văn minh Đông phương là văn minh "phẩm" lấy "tận thiện" làm lý tưởng.
Lý tưởng về sự tiến bộ mới phát hiện vào cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18 tức là từ phong trào cơ giới chủ nghĩa của Tây phương. Lòng tham dục con người ngày càng tăng vì chỉ ngó ra ngòai, thèm khát của cải để gây ích lợi cho bản thân và gọi đó là "tiến bộ". Vì vậy ta gọi đó là văn minh hướng ngoại/ trục vật.
Giả sử ta hỏi nhưng kẻ tụng niệm và tôn thờ hai chữ tiến bộ, tiến hóa vậy tiến bộ là gì thì dễ có mấy người đáp lại minh bạch, không biết bao nhiêu câu trả lời khác nhau. Cái lý tưởng về tiến bộ càng mập mờ bao nhiêu thì càng được tin tưởng bấy nhiêu.
Những văn minh cổ đời xưa đều là văn minh nghèo cả. Người xưa phải hạn chế lòng tham dục, lạm dụng trí tuệ mạo hiểm, tài tân tạo. Cho nên sanh sản ít, tự thiếu thốn vật liệu, lại xem làm ra tiền là bất đắc dĩ. Nhưng tất cả gì khác thuộc mỹ thuật, văn chương, lý luận, tôn giáo đều cố tìm cách đạt đến sự tận thiện tận mỹ. Thời đó cái "phẩm" luôn cao hơn cái "lượng".
Ngày nay ta lấy sự tăng nhiều của cải làm mục đích, nhất thiết chăm chú cái lượng hơn cái phẩm. Xét về "lượng" thì có tiến bộ, về "phẩm" thì thấy có sự suy đồi.
Bởi vậy phải cấp bách dung hợp cá tính đặc thù của đôi bên như cặp âm và dương, tuy nghịch nhau nhưng bổ túc nhau, cần nhau để tồn tại.
Tâm và trí là hai bộ phận phải được song phương đào luyện(*). Người Đông phương đã nói: "Đức thắng tài vi quân tử; tài thắng đức vi tiểu nhân".
Đông và Tây là hai bộ phận của khối óc chung nhân loại, không nên có thái độ miệt thị hay đề cao bên nào cả, vì cả hai tuy hai mà một, một mà hai - hễ một bộ phận mà bị tê liệt thì toàn thể phải suy đồi. Hãy cố gắng lập lại sự quân bình giữa hai bộ phận ấy.
Câu nguyên lý "thuần nhất" này mà cả đôi bên cần ghi nhớ: "Đồng qui nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự", nghĩa là cùng qui về một mối, mà mỗi bên mỗi theo con đường riêng của mình.
Chương II
I. Tư tưởng nhất nguyên lưỡng cực động của Đông phương
Nguyên lý tối cao: "Hai mà một, một mà hai". Một thứ "tư tưởng động", luôn biến đổi từ đối cực này sang đối cực kia, nghĩa là "bất khả đạo", "bất khả danh" (không thể nói ra được, không thể dùng một danh từ để chỉ định được) chứ không thể định nghĩa một chiều được.
Văn từ, cách lập luận, phô diễn và suy tư của người Tây phương rõ ràng dứt khoát, trắng ra trắng, đen ra đen, không thể nào lẫn lộn được. Người chúng ta ngày nay được dạy theo phương pháp luận cùng văn pháp Tây phương, dĩ nhiên rất lấy làm bất mãn, nếu không nói là xem thường cái học cố hữu Đông phương.
VD: nguyên lý đầu tiên ở Hệ từ trong Kinh Dịch - nền tảng triết học Trung Hoa- đã nói rõ: "Nhất âm nhất dương chi vị Đạo". Âm và dương là hai nguyên lý tượng trưng tất cả những mâu thuẫn trên đời, tuy bề ngoài xung đột, nhưng không bao giờ rời nhau mà đơn phương tồn tại. Đông phương Đạo học không chịu có sự phân tích, hệ thống hóa.
A. Cách hành văn và lập luận của Đông phương
Tư tưởng lưu chuyển biến hóa không sao nắm được là tư tưởng siêu hình của Phật và Lão.
Tư tưởng của Lão rất uyển chuyển, không thể định nghĩa một chiều, biểu diễn bằng những danh từ cưỡng dụng có hai chiều xuôi ngược mâu thuẫn. Đọc tư tưởng của Lão mà cứ hiểu theo nghĩa một chiều và dứt khoát thì sẽ không bao giờ hiểu đúng được loại tư tưởng ấy, như "tương dục phế chi, tất cố hưng chi" (hòng muốn phế đó, tức là làm cho đó hưng lên), ''tổn nhi chi ích, ích chi nhi tổn" (bớt là thêm, thêm là bớt), v.v... Còn Trang tử lại càng mung lung huyền ảo vô cùng như tư tưởng Phât giáo đại thừa "phi hữu phi không, diệc hữu diệc không'', "sắc bất dị không, không bất dị sắc''... Họ nói toàn bằng giọng nghịch thuyết, mâu thuẫn... là vì họ sợ đưa ra những chân lý nửa chừng. Vì thế mà Lão Tử mới nói: "Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri''.
Tóm lại, người Đông phương thích lặng thinh hơn là nói ra, nhất là quả quyết điều gì. Vì nói là chỉ được một khía cạnh chân lý mà thôi, có giá trị tương đối và phiến diện mà người nghe cần cảm chỗ không lời (vô ngôn). Bất đắc dĩ mà nói thì chỉ nói hết sức miễn cưỡng, và người đọc cần nhận thấy tinh tế cái gọi là ""ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lời nói) bởi "thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý'' (sách không hết lời, lời không hết ý). Nhân đó mà người Đông phương trong cách trứ thư lập ngôn hay dùng phương pháp tượng trưng, như ghi nét ở Kinh Dịch, hoặc phép ngụ ngôn ở Phật học và Trang học.
->Người Tây phương phô bày tư tưởng là để được hiểu, còn người Đông phương là để nói đúng sự thật
Sự hiểu biết nào mà không phải tự mình tìm ra, không phải hiểu biết thật sự (*), mà chỉ là sự hiểu biết ngoài da/ nhồi sọ mà thôi.
Đọc một quyển sách hoặc một bài văn mà ta thích và cho là hay là vì nó có chỗ giống với ta, nhờ đó khêu gợi những ý tưởng mà ta đã ấp từ lâu nơi đáy lòng. Chỗ mà Kinh Dịch gọi là "đồng thinh tương ứng, đồng khí tương cầu".
Người Đông phương đọc sách (sách về loại tư tưởng, chứ không phải loại khoa học chuyên môn) không phải để học thêm của người, để chờ người khác đem đến món ăn tinh thần dọn sẵn, mà chính là để tìm hiểu cái sâu thẳm của lòng mình, cái mà bấy lâu nay mình đang ấp ủ, hoặc vì chưa tiện nói ra hay chưa đủ điều kiện trưởng thành nên không nói ra được. Bởi vậy cùng thời một câu nói mà có kẻ nghe qua không thấy gì rung cảm, trái lại có người vừa nghe đã thấy rung chuyển lạ thường. Là vì có đồng mới có ứng, không đồng không ứng. Sách đọc ngàn kinh muôn quyển, thế sao ta lại không chịu ai cả, lại chịu riêng một nhà nào thôi? Là vì mình với nhà văn ấy có chỗ đồng nhau như hai sợi dây lên đồng cung bậc, đó cũng là mật nhiệm của Tạo hóa, của triết học phương Đông.
Cho nên đọc sách mà "ngộ" được điều gì, hoặc đọc câu sách mà thấy thích thú, thấy cả một cuộc đời mình thay đổi, đâu phải vì câu sách ấy mới lạ tân kỳ, mà chính vì ta đã có sẵn nó trong tiềm thức, nhưng chưa có cơ hội phát lộ ra. Nay vì chỗ tương đồng, làm vang động cả tâm hồn trí não mình như thế. Vì vậy có người cho rằng đó là cuộc gặp gỡ với một người tri âm tri kỷ đã lâu ngày cách biệt.
Thực sự sỡ dĩ những kẻ trứ thư lập ngôn mà cảm hóa được lòng người là vì họ có tài khêu gợi, khéo giúp người khác thấy rõ được lòng mình, nhưng chắc chắn công lao của họ chẳng khác gì công ân của vầng thái dương chỉ phóng ánh sáng ra cho muôn hoa, nhưng hoa nào trổ được thì trổ, hoa nào trổ hoa nấy. Chỉ hoa nào đến thời kỳ trổ là trổ được mà thôi, còn hoa nào chưa đến thời kỳ trổ cũng không làm sao trổ được trước thời gian dự định của nó. Cho nên đối với người phương Đông, chấp thời gian là phản văn hóa.
Vậy vì sao sách vở của người Đông phương lại dùng lối văn vắn tắt, không mạch lạc, không lý luận, không chịu dài dòng minh chứng? Là tại dụng ý của họ ngày xưa là để tạo cái học bề sâu, dùng sự khêu gợi để khải phát tiềm lực ở tận đáy lòng đệ tử hay người đọc sách.
C. Ba giai đoạn trong lịch trình diễn biến tâm thức theo Đông phương triết học
1. Giai đoạn thứ nhất: tâm thức cá nhân hòa đồng cùng vũ trụ vạn vật, nhưng vô tâm, tức là giai đoạn của thiên tính, linh tính.
2. Giai đoạn thứ hai: tâm thức cá nhân tách rời đại toàn thể, giai đoạn của lý trí, óc ngạo nghễ cá nhân chống lại trật tự tự nhiên, triết học nhị nguyên.Giai đoạn thịnh hành nhất của khoa học trục vật (hướng ngoại).
3. Giai đoạn thứ ba: siêu thoát tâm thức cá nhân, vượt lên trên nhị nguyên của lý trí mà Lão học và Phật học là tiêu biểu nhất. Giai đoạn chín muồi của tâm thức cá nhân, về với cái tâm thức vô sai biệt ban đầu, là tâm Vô thức, tâm Huyền đồng của Lão Tử, tâm Tề Vật của Trang Châu, tâm Bình Đẳng bát nhã của Thiền tông. Giai đoạn của trực giác mà tâm với trí hòa làm một. Giai đoạn "phản kỳ chân, phục kỳ bản" của Đạo học.
Tuy nhiên, giai đoạn thứ hai hết sức quan trọng, vì nhờ nó mà tâm thức biến con người thành đấng Tạo hóa của mình, quy phục thiên nhiên, làm chủ vạn vật và làm chủ cả tâm hồn mình (*) vì hỗn hợp tiểu ngã vào đại ngã của vũ trụ vạn vật.
Đặc điểm của tam nguyên:
1. Không có sự vật nào trên đời không có lưỡng cực
2. Cặp mâu thuẫn đối đãi rất liên quan mật thiết với nhau
a. Mâu thuẫn nhưng nương tựa nhau
b. Chứa đựng lẫn nhau
c. Đối đãi và chuyển hóa lẫn nhau
d. Đối đãi ngang nhau
e. Đối đãi mà cũng bị thông thuộc vào một mối
3. Cặp mâu thuẫn đối đãi hợp nhau để biến thành một thế mới đầy đủ hơn: khả năng tổng hợp
4. Sự tác động qua lại hai chiều là nguyên nhân của mọi sinh hóa
5. Sự liên quan giữa đối đãi và hợp nhất: quan hệ giữa lưỡng (hai) và nhất (một) - hai mà một. Hòa mà không đồng
Quan niệm tam nguyên liên quan tới luật phản phục "vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản", ví dụ như quả lắc.
Tất cả thuật xử thế là ở chỗ "biết đủ" (tri túc) và biết "dừng" (tri chi). "Biết đủ" mới biết rõ lúc nào dừng. Như câu này của Khổng Tử: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân" (cái gì mình không muốn kẻ khác làm cho mình, chớ có làm cho kẻ khác. Biết đâu cái mà mình không muốn, kẻ khác lại muốn.
Đạo đức cao nhất của người Đông phương là cái đạo trung. Có người cắt nghĩa chữ trung bằng chữ "thời": đúng thời là hay, sái thời là dở. Vấn đề "hiểu biết" không còn là việc làm phản động, bởi phản động cái lầm, vẫn lầm. Chỉ cần để cho được quân bình, cái trung động (dynamic) chứ không phải cái trung tịnh (static). (LW - Trước giờ hiểu lầm chỗ này, phải luôn chuyển động theo cái Đạo biến hóa chứ không phải đứng yên một chỗ)
Cái mà ta gọi là nguyên lý tối cao có tính cách siêu thời gian và không gian hoàn toàn hư không, nhưng mà thực có, nghĩa là không bị thời gian phá hủy. Nó là nguyên lý bất biến trong mọi cuộc thiên biến vạn hóa trên thế gian này, nên người đạt Đạo là kẻ "dĩ bất biến, ứng vạn biến", nắm giữ cái chỗ bất biến - Đạo - để đối phó mọi biến cố trên đời, chứ không mắc vào nguyên tắc đạo đức nào cả. Nên người theo tam nguyên là người "tri tiến thoái, tồn vong chi đạo", nghĩa là "biết lúc tiến, lúc thối, lúc giữ cho còn, lúc làm cho mất, chứ không giữ khư khư lề lối điển hình nào cả".
Hữu dụng hay vô dụng là tùy chỗ biết dùng của mình (*), người xưa có câu "dụng nhân như dụng mộc" (dùng người như dùng cây).
Triết học quân bình (Đạo), "tổn hữu dư, bổ bất túc" (bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu), không phải là triết lý bi quan. Người ta thường khuyên hãy lạc quan mà sống, nhưng lạc quan họ bảo là sự giả lờ, dối mình, dối người để đừng thấy những gì mình không vừa lòng. Phải có can đảm nhìn nhận sự đời y như nó xảy ra.
Chương IV
I. Lẽ nhất quán trong tư tưởng Đông phương
Tư tưởng Đông phương cho rằng mọi sư vật có liên quan với nhau, chằng chịt dính liền như một sợi dây cột chặt mọi sự vật trên đời. Quan niệm nhất quán ấy của người Đông phương khiến họ không chấp nhận sự phân chia sự vật thành từng khu vực riêng biệt. Tương tự về vấn đề triết học, họ không phân chia như Tây phương thành bốn bộ môn biệt lập là: Siêu hình học (Metaphysic), Tâm lý học (Psychology), Luận lý học (Logic) và Đạo đức học ( Moral).
Đông phương tư tưởng cho rằng "tất cả đều có hai mặt, tất cả đều chứa mâu thuẫn, tất cả những chân lý nói ra được chỉ là những thứ chân lý phiến diện mà thôi...". Cho nên những tư tưởng một chiều, được phân loại kỹ lưỡng, như là tư tưởng siêu hình / đạo đức, vũ trụ / nhân sinh / tri thức quan v.v đều là những gì người Đông phương thụ lãnh sau này của Tây phương triết học.
Thí dụ điển hình cho cái học nhất quán: quyển sách tối cổ dùng làm căn bản cho mọi tư tưởng văn hoá Trung Hoa là quyển Dịch Kinh. Kinh Dịch là một quyển sách gồm cả triết học, tâm lý, luân lý, đạo đức, bói toán, y học, xã hội, chính trị, tu thân, trị nước, thiên văn, địa lý,v.v... nên ta muốn dùng nó về khía cạnh nào cũng được. Tất cả là một, như các bộ phận tâm, can, tỳ, phế, thận trong một cơ thể sống vậy. Không có bộ phận nào mà không liên lạc mật thiết với các bộ phận khác. Thảy đều là một.
II. Thuyết tri hành trong tư tưởng Đông phương
Tây phương xem tôn giáo và triết học khác nhau, như tâm và trí khác nhau. Quan niệm nhị nguyên ấy chứng tỏ con người là mâu thuẫn: tâm với trí xung đột nhau, không bao giờ giải quyết được.
Trái lại, Đông phương nhất nguyên cho rằng triết học chủ lý (tri - âm), tôn giáo chủ tình (hành - dương), "tuy hai mà một", "tuy một mà hai".
Thông hiểu việc người, nhất là thông hiểu được cái nghĩa huyền diệu của bản thân thì cũng hiểu được cái lẽ huyền diệu của trời đất, vũ trụ. Vạn vật đều đủ nơi bản thân, trở về một cách thành thực thì còn gì vui bằng!
Cho nên biết ta một cách rõ ràng thì sẽ biết cái lý của sự vật bên ngoài không sai: "Bất xuất hộ, tri thiên hạ; bất khuy dũ kiến thiên đạo" (Không ra khỏi cửa, mà biết được việc của thiên hạ, không dòm ngoài cửa mà biết được Đạo Trời).
Tóm lại, Đông phương Đạo học rất chú trọng đến cái học tự tri (hướng nội) hơn cái học trục vật, chạy theo cái học bên ngoài. Trước khi làm chủ sự vật, người Đông phương lo học làm chủ lấy mình. "Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường" (biết người là người trí, nhưng biết mình mới là người sáng. Thắng được người chỉ là kẻ có sức, thắng được mình mới là kẻ mạnh). Biết mình và thắng mình, thuôc về cái học tâm lý và đạo đức. Giá trị của bất cứ học thuyết siêu hình của Đông phương là thực hiện nó nơi bản thân, áp dụng nó trong đời sống hàng ngày: vũ trụ quan và nhân sinh quan là một.
Thuyết "tri hành hợp nhất" của Vương Dương Minh không còn phân biệt giữa tri và hành: "Tri tức hành, hành tức tri".
Thuyết "tri hành hợp nhất" gồm ba phần:
1. Chưa bao giờ có tri mà lại không có hành. Tri mà không hành, thì chưa phải là tri (nửa cái tri).
- Tri chỉ về cái biết sáng suốt của tâm, về lẽ phải trái. Hành nói về sự phát động của tâm.
VD: ưa sắc đẹp, ghét mùi thối. Thấy đẹp mà biết là đẹp, là tri, ưa sắc đẹp là hành. Thấy đẹp là ưa rồi, chứ không phải thấy đẹp rồi mới lập tâm ưa thích. Ngửi mùi thối mà biết là thối, là tri, ghét mùi thối là hành. Ngay khi ngửi mùi thối là ghét rồi, chứ không phải thấy thối rồi mới lập tâm ghét.
2. Tri là lúc khởi đầu của hành; hành là chỗ hoàn thành của tri.
- Tri để chỉ (ý định) công việc, hành là thực hiện công việc ấy.
Người ta có lòng muốn ăn, rồi mới biết ăn. Lòng muốn ăn, tức ý muốn, là bước khởi đầu của hành. Ăn miếng đồ ngon, đồ dở, là phải bỏ vào miệng mới biết. Chưa từng đích thực hành Đạo, thì không sao hiểu Đạo là gì mà nói...
"Đoạn trường ai có qua cầu mới hay"
3. Tri mà đến chỗ chân thiết đốc thực (đứng đắn, cặn kẽ, thiết thực) thì tri ấy là hành; hành mà đến chỗ minh giác tinh xác (sáng suốt, rạch ròi) thì hành ấy là tri vậy.
Tri và hành tuy là hai nhưng chỉ là một việc. Người xưa bàn riêng về tri về hành là để sửa đổi cái thói làm việc không hoàn hảo của người đời:
a. Một hạng người mù mờ, làm bừa mà không chịu suy nghĩ kỹ càng, nên phải nói đến tri.
b. Có kẻ lại cứ mơ màng suy nghĩ tới lui, luôn luôn do dự chẳng dám làm gì cả, nên phải nói đến hành.
-> Tri là minh giác của tâm, hành là phát động của tâm, tri là ý định, hành là thực hiện ý định. Tri và hành đều chỉ chung một việc.
Họ Vương có ý thức tỉnh lòng người, đừng xem thường ý niệm bất chính mà phải diệt nó từ trong trứng. Lại nữa, người đương thời tin rằng có tri rồi mới có thể hành, nên suốt đời không dám làm gì, không làm được gì và cũng không hiểu biết được gì rõ ràng cả.
--> Đạo học Đông phương không như triết học Tây phương "chỉ là trò chơi lý trí bên ngoài cuộc đời", mà thực sự là cái Đạo sống. Bởi tri hành luôn hợp nhất nên "Đông phương không có triết gia, chỉ có hiền giả và thi nhân", là kẻ đã sống cái triết thuyết của mình.
Chương V
Cách lập luận và phép tượng trưng
Lối lập ngôn của người Đông phương dùng phương pháp khêu gợi và tượng trưng. Họ quan niệm sự hiểu biết là một cái gì do mình tìm ra, hoặc bên ngoài khêu gợi mà bên trong hưởng ứng. Họ chú trọng đén phương pháp dẫn dụ khêu gợi hơn là bắt buộc kẻ khác chấp nhận tư tưởng của mình.
Văn tự thực sự chỉ là một dấu hiệu để tượng trưng ý niệm thô sơ trừu tượng và phiến diện nhất, nên mới nói "ngôn bất tận ý", chỉ biết chấp lấy ngôn từ thì sẽ không hiểu được triết lý của Kinh Dịch cùng các sách khác. Phật giáo nhắc điều này qua câu truyện "ngón tay chỉ trăng" của Phật tổ.
Người Đông phương không mâu thuẫn, chấp nhận mâu thuẫn, cho rằng mâu thuẫn là để bổ túc chứ không phải thủ tiêu nhau.
Có lẽ vì vậy mà họ không thích biện bác nhau, nhất là chống đối lại người đối thoại. Sự đối lập bao giờ cũng cần thiết để nhìn thấy rõ sự thật luôn luôn lưỡng diện. Chân lý muôn mặt như hạt ngọc kim cương, đúng sai đều tùy trình độ, tùy thời gian, chỉ có thể khêu gợi mà không thể chứng minh. Người ta đi đến chân lý bằng những con đường khác nhau, chỗ mà Kinh Dịch gọi là "đồng quy nhi thù đồ" (đồng về một chỗ mà khác đường lối).
Tóm lại, trong triết học Đông phương, chân lý có tính cách đa diện và các hệ thống triết học là những quan điểm, nghĩa là thị kiến hay những lối nhìn khác nhau, những cách mô tả các khía cạnh khác nhau của một chân lý. Lão Tử nói rất rõ: "Biện giả bất thiện, thiện giả bất biện" (kẻ rành đạo thì không thích biện luận, kẻ ưa biện luận là người không rõ lẽ Đạo).
(*): Những ý tưởng mà mình tâm đắc nhất, ngộ ra nhiều điều.