"Vì lối sống giản đơn trước hết là do cách nghĩ, nên lẽ tự nhiên giáo dục đóng vai trò rất lớn.
Thường thì có hai phương pháp nuôi dạy con trẻ: thứ nhất là nuôi dạy chúng cho chính chúng ta; thứ hai là nuôi dạy chúng cho chính bản thân chúng.
Trong trường hợp thứ nhất, đứa trẻ được xem như là một phần bổ sung cho cha mẹ: chúng là tài sản của họ, chiếm một vị trí trong số những thứ mà họ sở hữu. Đôi khi vị trí này là cao nhất, đặc biệt là khi cha mẹ coi trọng cuộc sống tình cảm. Lại có khi, nơi mà lợi ích vật chất thống trị, đứa trẻ chỉ xếp thứ hai, thứ ba, thậm chí là cuối cùng. Dù sao đi nữa, chúng cũng chỉ là một người không có tiếng nói.
Khi còn nhỏ, chúng lệ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ, không chỉ vâng lời mà còn bị chèn ép mọi cá tính, mọi bản chất riêng. Lớn lên, sự lệ thuộc này trở thành một sự tước đoạt thực sự, lan đến cả ý nghĩ, cảm xúc, mọi thứ thuộc về chúng. Tuổi vị thành niên của chúng vì thế mà kéo dài mãi. Thay vì dần trưởng thành và độc lập, chúng tiến vào chế độ nô lệ. Chúng phải là những gì cha mẹ cho phép, phải theo công việc, tín ngưỡng, chính kiến hay sở thích thẩm mỹ của cha mẹ. Chúng sẽ nghĩ, nói, hành động và kết hôn theo sự hiểu biết và giới hạn của sự độc đoán gia trưởng.
.....
Lối giáo dục còn lại thì ngược lại hoàn toàn: nuôi dạy con trẻ vì chính bản thân chúng. Vai trò bị đảo ngược: cha mẹ ở đó để phục vụ con. Ngay khi đứa trẻ ra đời, nó trở thành trung tâm. Ông nội tóc bạc và người cha mạnh mẽ đều phải nhún nhường trước những lọn tóc tơ ấy. Lời nói ngọng nghịu của nó là mệnh lệnh. Chỉ cần một dấu hiệu từ nó là đủ. Nếu nó khóc đêm, chẳng ai được phép mệt mỏi; cả nhà phải thức dậy. Chẳng bao lâu, người mới đến này phát hiện ra quyền năng tối thượng của mình, và trước khi biết đi, nó đã say men quyền lực ấy. Càng lớn, điều ấy càng ăn sâu và lan rộng. Cha mẹ, ông bà, giúp việc, thầy cô – tất cả đều phải nghe theo nó.
Nó nghiễm nhiên nhận lấy sự tôn kính, thậm chí cả sự hy sinh của người khác; nó đối xử như một kẻ nổi loạn với bất kỳ ai không nhường bước trước nó. Chỉ có nó là nhất, hoàn hảo, không bao giờ sai. Tất cả điều này tạo nên một ông chủ không biết điều, mà khi kịp nhận ra thì đã quá muộn! Một ông chủ vô ơn, vô lễ, thậm chí là vô tình. Nó không còn đoái hoài đến những người mà nó nợ tất cả, và cứ thế sống mà chẳng có luật lệ hay giới hạn nào.
Nếu so sánh hai lối giáo dục này – một bên đề cao môi trường, một bên đề cao cá nhân; một bên là sự độc đoán của truyền thống, bên kia là sự chuyên chế của cái mới – ta sẽ thấy chúng đều tai hại ngang nhau. Nhưng tệ hại nhất là sự kết hợp của cả hai, sản sinh ra những con người nửa máy móc, nửa chuyên chế, mãi dao động giữa tinh thần nô lệ và tinh thần nổi loạn hay thống trị.
Con trẻ không nên được giáo dục vì chính chúng, cũng không vì cha mẹ: bởi con người không sinh ra để trở thành một nhân vật hay một mẫu vật. Chúng nên được giáo dục vì cuộc sống. Mục tiêu của giáo dục là giúp chúng trở thành những thành viên tích cực của nhân loại, những lực lượng gắn bó keo sơn, những người phục vụ tự do cho tổ chức xã hội văn minh. Việc tuân theo một nguyên tắc giáo dục nào khác đều làm phức tạp đời sống, biến dạng nó, gieo mầm mọi rối loạn."
......
Mỗi năm tôi đều đọc lại cuốn sách mỏng này một lần. Mỗi một năm thì đều nhìn thấy những điều mới mà trước giờ chưa vỡ vạc ra được, nhưng có lẽ cái thú vị của sự "giản đơn" này là như thế: Cuộc sống hiện đại biến những lựa chọn của ta thật phức tạp, dần đi xa khỏi những mục tiêu ban đầu, thứ ta nghĩ là cần, thứ ta nghĩ là lợi dần trở thành những điều đeo bám thành gánh nặng. Để tiến được xa và nhẹ nhõm hơn, phải biết lược bỏ, "làm phép trừ" và tập trung vào những việc thiết thực nhất. Sau dần trở thành một nếp nghĩ, một thói quen hàng ngày và từ đó có năng lượng cho vài việc giá trị hơn.














