Kinh nghiệm cho thấy, khi không ai chịu trách nhiệm thì mình lấy trời ra đổ lỗi, cho đỡ đau!

seen from United States

seen from Singapore
seen from United States

seen from United States
seen from United States
seen from United States
seen from United States
seen from United States

seen from United States
seen from China
seen from Malaysia
seen from United States
seen from United States

seen from Canada
seen from United States
seen from China
seen from United States

seen from Malaysia
seen from United Kingdom

seen from United States
Kinh nghiệm cho thấy, khi không ai chịu trách nhiệm thì mình lấy trời ra đổ lỗi, cho đỡ đau!
Kinh nghiệm cho thấy, khi không ai chịu trách nhiệm thì mình lấy trời ra đổ lỗi, cho đỡ đau
Nguyễn Ngọc Tư
3 năm rồi không để ý đến idol 1 thời, giờ đã nổi bật không còn là idol của những thời 2008.Lâu rồi không có điểm bật cho tinh thần, làm việc gì cũng khó hoàn tất, thói quen gì cũng trì hoãn.
Đã từng tư duy việc gì cũng ko khó vì một khi bản thân đã quyết là có trách nhiệm làm tới cùng .Những năm đại học này nó mai một bản thân quá nhiều, nào games, nào nhây lười, nào ham mê vô nghĩa, đầu óc mụ mị.zzzzz.
Bảo hiểm tiền gửi và những vấn đề cần hoàn thiện để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền
Ts. Hà Huy Tuấn, Phó chủ tịch Uỷ Ban Giám sát tài chính Quốc gia
BHTGVN được kỳ vọng sẽ có những diện mạo mới và sẽ đóng góp tích cực cho sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam. Nguồn: internet
Giống như hệ thống BHTG của hầu hết các nước trên thế giới, BHTGVN được ra đời với những mục tiêu chủ yếu là nhằm: (1) Bảo vệ người gửi tiền nhỏ, lẻ, bị hạn chế về thông tin đối với các tổ chức nhận tiền gửi; (2) Góp phần bảo đảm cho hệ thống tài chính - ngân hàng được hoạt động ổn định, ngăn chặn các trường hợp đổ vỡ trong hệ thống này và (3) Góp phần nâng cao tính cạnh tranh bình đẳng giữa các định chế tài chính và lành mạnh hóa sự phát triển của hệ thống tài chính. Có thể nói, tuy được xác định có 3 mục tiêu nhưng trong thực tế giữa 3 mục tiêu này có mối quan hệ khăng khít, biện chứng với nhau và trong đó mục tiêu bảo vệ quyền lợi người gửi tiền được coi là ưu tiên hàng đầu.
Liên quan đến mục tiêu bảo vệ tối đa quyền lợi người gửi tiền (và cũng là góp phần thực hiện 2 mục tiêu còn lại), trong năm 2014, BHTGVN cần được tập trung vào 3 vấn đề đang nổi lên đã được xác định trong Luật BHTG như sau:
Thứ nhất, việc xác định hạn mức chi trả cho người gửi tiền một cách hợp lý trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi gặp khó khăn thanh khoản hoặc đổ vỡ là hết sức quan trọng. Nếu xét về khía cạnh tác động trực tiếp tới quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức nhận tiền gửi và thị trường tài chính, mức độ Nhà nước chi trả phải bảo đảm tác động được tối đa tới càng nhiều người gửi tiền và càng nhiều số tiền gửi càng tốt. Tuy nhiên, nếu xét theo khía cạnh tác động gián tiếp, nếu như mức cam kết chi trả quá cao và quá rộng sẽ dẫn tới sự thờ ơ, ỷ lại của người dân trong việc đánh giá tín nhiệm, chất lượng của các tổ chức tín dụng để gửi tiền. Bên cạnh đó, cũng sẽ dễ dẫn tới các hành vi lạm dụng, lợi dụng chính sách, vi phạm chuẩn mức đạo đức nghề nghiệp mà không chú ý nâng cao hiệu quả hoạt động và củng cố hệ thống quản trị rủi ro của các tổ chức nhận tiền gửi. Từ đó, lại làm cho rủi ro mất khả năng thanh toán, đổ vỡ của các tổ chức nhận tiền gửi cũng như toàn bộ hệ thống ngày càng cao. Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều rất chú trọng xác định mức này hợp lý cho từng thời kỳ.
Thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước trên thế giới đang có xu hướng tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm ngày một cao hơn và thậm chí trong thời kỳ khủng hoảng, nhiều nước đã cam kết trả toàn bộ 100% số tiền gửi. Điều này đã tạo được tâm lý rất ổn định của người gửi tiền và trong thực tế, quyền lợi người gửi tiền đã được bảo vệ một cách tuyệt đối.
Tại Việt Nam, trong thời gian tương đối dài (từ năm 2005), đã và đang quy định mức chi trả, bồi thường cho tất cả các khoản tiền gửi tại một tổ chức tối đa là 50 triệu đồng và trong lúc thế giới đang xảy ra khủng hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua thì Nhà nước cam kết bồi thường toàn bộ 100% số tiền gửi của người dân. Đặc biệt là tại những thời điểm nhạy cảm của thị trường tài chính, Ngân hàng Nhà nước đã bảo đảm cho các tổ chức nhận tiền gửi chi trả đủ cho người gửi tiền không ổn định về tâm lý đến rút tiền hàng loạt. Như vậy, những quy định, cam kết và cách xử lý trong thực tiễn tại Việt Nam vừa qua đã bảo đảm được quyền lợi người gửi tiền và góp phần tích cực làm ổn định thị trường tài chính.
Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi mà kinh tế Việt Nam đang được kỳ vọng tiếp tục phát triển mặc dù đang gặp nhiều khó khăn, thách thức sẽ làm cho thu nhập dân cư ngày càng cao thì lượng tiền gửi của dân cư cũng tăng theo, nhưng đồng thời nhu cầu phải ổn định tâm lý người gửi tiền cũng cao hơn. Bên cạnh đó, mặt bằng giá của Việt Nam liên tục tăng trong thời gian vừa qua kèm theo việc thực hiện chương trình tái cấu trúc hệ thống tổ chức tài chính tín dụng cũng đang tác động ít nhiều đến tâm lý người gửi tiền. Vì vậy, việc xác định lại một cách hợp lý mức độ bồi thường, tăng hạn mức trả tiền bảo hiểm nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, góp phần thúc đẩy lành mạnh hóa và ổn định thị trường tài chính trong giai đoạn tái cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng hiện nay là hết sức cần thiết.
Thứ hai, việc xác định mức phí phải nộp của các tổ chức tham gia BHTG cần mang tính chủ động và tích cực hơn. Xét về nguyên tắc, mức phí BHTG phải thể hiện rõ được trách nhiệm của tổ chức nhận tiền gửi đối với người gửi tiền trong trường hợp có đổ vỡ xảy ra.
Thực tiễn trên thế giới đang tồn tại chủ yếu 2 phương pháp thu phí BHTG tùy theo mức độ phát triển của thị trường tài chính và năng lực của cơ quan quản lý, giám sát, BHTG. Phương pháp thu thứ nhất là xác định một mức thu đồng hạng, thống nhất cho tất cả các tổ chức nhận tiền gửi. Ưu điểm của phương pháp thu này được coi là một phương pháp đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là không làm thấy rõ sự khác biệt về trách nhiệm giữa các tổ chức với mức độ an toàn khác nhau đối với quyền lợi người gửi tiền nên không khuyến khích, thúc đẩy cạnh tranh giữa các tổ chức nhận tiền gửi đáng phải có trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, phương pháp này chỉ thường được áp dụng đối với các thị trường tài chính còn sơ khai và cơ quan quản lý, giám sát và BHTG mới pháp triển, việc xác định mức độ rủi ro của các tổ chức nhận tiền gửi còn nhiều khó khăn.
Phương pháp thu phí BHTG thứ hai là thu mức phí căn cứ vào mức độ rủi ro của tổ chức nhận gửi tiền. Nếu tổ chức nhận gửi tiền được đánh giá mức độ rủi ro (khả năng đổ vỡ) càng cao thì mức phí phải nộp cao hơn và ngược lại. Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp thứ nhất là sẽ khuyến khích các tổ chức nhận tiền gửi nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm thiểu rủi ro. Như vậy, với phương pháp thu thứ hai thì quyền lợi người gửi tiền cũng sẽ đều được bảo đảm tốt hơn và giảm thiểu gánh nặng của ngân sách nhà nước trong trường hợp đổ vỡ. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp thu thứ hai đòi hỏi thị trường tài chính phát triển lành mạnh, minh bạch với cơ quan đánh giá rủi ro chính xác, khách quan tình hình của tổ chức nhận gửi tiền; đồng thời cơ quan BHTG cũng cần có những năng lực thực thi nhất định.
Cho đến nay, tại Việt Nam, cơ quan BHTG vẫn đang thực hiện thu phí theo phương pháp thứ nhất. Thu phí theo phương pháp này đã phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như năng lực của các cơ quan quản lý, giám sát, BHTGVN trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, khi mà nền kinh tế và thị trường tài chính phát triển đến mức độ cao hơn thì các yếu tố rủi ro (trong đó có các rủi ro của các tổ chức nhận tiền gửi với người gửi tiền) cũng sẽ đa dạng hơn và lớn hơn. Chính vì lẽ đó, Luật BHTG đã tạo cơ sở pháp lý làm tiền đề cho việc xây dựng một cơ chế thu phí căn cứ vào mức độ rủi ro của các tổ chức nhận tiền gửi nhằm đáp ứng tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền và có thể nói năm 2014 là thời điểm thuận lợi để bắt đầu thực hiện chính sách này.
Thứ ba, xây dựng cơ chế trao đổi, tiếp nhận và xử lý thông tin hiệu quả.
Như trên đã trao đổi, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của cơ quan BHTG là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền không có điều kiện thu thập, đánh giá, thẩm định hoạt động, rủi ro của tổ chức nhận tiền gửi. Muốn làm được như vậy, cần phải có cơ chế để xác định và xử lý có hiệu quả được đồng bộ trên cả 2 kênh thông tin chủ yếu sau:
(1) Giữa người gửi tiền với tổ chức nhận tiền gửi: cho phép người gửi tiền đánh giá được trực tiếp tổ chức nhận tiền gửi. Từ đó, có thể tự bảo vệ được quyền lợi của chính mình. Trong trường hợp này, người gửi tiền chủ yếu phải dựa vào khả năng đánh giá của mình căn cứ vào các thông tin của thị trường và bản thân tổ chức nhận tiền gửi một cách trực tiếp (hoặc gián tiếp) và chính thức (hoặc không chính thức).
(2) Giữa các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính và cơ quan BHTG với tổ chức nhận tiền gửi. Trong trường hợp này, quyền lợi người gửi tiền được thực hiện thông qua sự tín nhiệm của họ đối với các thông tin, đánh giá của các cơ quan quản lý, giám sát thị trường tài chính và cơ quan BHTG. Do đó, người gửi tiền dựa hoàn toàn vào thông tin, đánh giá của cơ quan quản lý, giám sát và BHTG.
Để thực hiện được việc này, thực tiễn trên thế giới (đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng tài chính - tiền tệ) đã cho thấy có nhiều mô hình trao đổi thông tin khác nhau để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, nhưng không có một mô hình nào được coi là tối ưu tuyệt đối và có thể áp dụng chung cho mọi quốc gia. Vì vậy, cho đến nay, hầu hết các quốc gia đều căn cứ vào điều kiện thực tế của mình để xác định các mô hình trao đổi thông tin này.
Tại Việt Nam, về cơ bản, cũng đã và đang tồn tại hai kênh thông tin nêu trên. Riêng đối với kênh thông tin thứ hai, bên cạnh việc đang tồn tại những thông tin chính thống từ các cơ quan quản lý, giám sát theo các quy định hiện hành, Luật BHTG còn xác định rõ hơn việc các tổ chức tham gia BHTG sẽ báo cáo trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước và cơ quan BHTGVN sẽ được tiếp nhận và xử lý các thông tin về tổ chức tham gia BHTG từ Ngân hàng Nhà nước. Đây là quy định mới và khác với các quy định trước đây.
Ưu điểm của quy định này là sẽ làm cho việc thu thập báo cáo, thông tin của BHTGVN được tập trung một cách đơn giản, thuận lợi (một đầu mối), có hệ thống, kịp thời, chính xác và đầy đủ hơn, còn các tổ chức tham gia BHTG cũng dễ thực hiện chế độ báo cáo, tránh được hiện tượng chồng chéo, trùng lặp. Còn nhược điểm của quy định là sẽ làm hạn chế tính chủ động tiếp cận thông tin của BHTGVN.
Như vậy, để phát huy được tốt hơn chức năng bảo vệ quyền lợi người gửi tiền của BHTGVN trong việc thực hiện Luật BHTG, cần sớm ban hành quy định cơ chế, nội dung và phân định trách nhiệm về chia sẻ thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước với BHTGVN, giữa BHTGVN với các cơ quan quản lý, giám sát khác và các tổ chức tham gia BHTG.
Trong 3 vấn đề nêu trên, có thể thấy vấn đề hạn mức trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền và mức phí BHTG phải nộp có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ và biện chứng với nhau và khi điều chỉnh thì nên được điều chỉnh đồng thời. Còn cơ chế trao đổi thông tin là điều kiện cần thiết để BHTGVN hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức năng của mình. Bên cạnh đó, để các vấn đề này được thực hiện tốt hơn nếu các cơ quan có liên quan và BHTGVN cũng cần triển khai, thực hiện đồng bộ với việc ban hành các quy định khác hướng dẫn Luật BHTG như: quy định về tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, chế độ tài chính cụ thể của BHTGVN...
Nếu thực hiện được các nội dung nêu trên, hoàn toàn có thể tin tưởng Luật BHTG sẽ phát huy tốt tác dụng, BHTGVN sang năm 2014 sẽ hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đặc biệt là với sứ mạng bảo vệ tốt nhất và hiệu quả quyền lợi người gửi tiền.
Theo daibieunhandan.vn
Từ khoá: việt nam nền kinh tế phát triển kinh tế thị trường bảo hiểm kinh tế thị trường chế độ tài chính tái cấu trúc quy định tiền bảo hiểm đạo đức nghề nghiệp khó khăn hiệu quả bồi thường tín dụng cam kết bồi thường tài chính trách nhiệm trả tiền bảo hiểm quản trị rủi ro thông tin quyền lợi thị trường tài chính giảm thiểu rủi ro ngân hàng khả năng thanh toán thế giới khủng hoảng đánh giá rủi ro gia ổn định nhà nước bão phát triển lành mạnh khủng hoảng tài chính chi trả bồi thường bảo vệ quyền lợi
tin tuc viet nam trung quoc
Truy tố 9 bị can trong vụ nhân bản kết quả xét nghiệm
(PetroTimes) - Ngày 17/1, Viện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội đã hoàn tất cáo trạng đề nghị truy tố 9 bị can trong vụ án nhân bản kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức.
>> Vụ "nhân bản" kết quả xét nghiệm: Nhiều vấn đề chưa được làm rõ
Bị can Vương Thị Kim Thành cùng 7 bị can khác là kỹ thuật viên, nhân viên hợp đồng, nhân viên xét nghiệm của Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức bị đề nghị truy tố về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ". Giám đốc Nguyễn Trí Liêm và Phó Giám đốc Nguyễn Thị Nhiên bị đề nghị truy tố về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".
Những bản kết quả xét nghiệm huyết học trùng nhau tại Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức.
Ngày 5/6/2013, bà Hoàng Thị Nguyệt (nhân viên Khoa Xét nghiệm Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức) đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hà Nội tố cáo ông Nguyễn Trí Liêm dung túng cho cấp dưới làm sai trong quy trình xét nghiệm huyết học. Vào cuộc điều tra, cơ quan công an xác định, bộ phận xét nghiệm ngoại trú lấy mẫu máu của bệnh nhân, nhưng không làm xét nghiệm mà vứt bỏ rồi tự in ra nhiều kết quả từ một mẫu khác để gắn trả cho nhiều người.
Dù quy định của ngành y tế và của bệnh viện đối với công tác tại Khoa Xét nghiệm rất cụ thể nhưng trong quá trình điều hành, ông Nguyễn Trí Liêm đã chỉ đạo các khoa nghiệp vụ tăng cường các xét nghiệm đối với bệnh nhân cận lâm sàng để tăng thu nhập cho bệnh viện qua tiền bảo hiểm y tế. Toàn bộ số tiền này được chia cho cán bộ, công nhân viên của bệnh viện.
Trong thời gian từ ngày 1/7/2012 đến 31/5/2013, Khoa Xét nghiệm đã in 1.544 kết quả xét nghiệm huyết học giống nhau, trong đó có 789 kết quả được thống kê vào bảo hiểm y tế và trực tiếp thu của bệnh nhân không có bảo hiểm y tế là 16,569 triệu đồng.
Trong vụ án, bà Phan Thị Oanh (Trưởng kỹ thuật viên Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố hành vi "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" những được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố ra quyết định đình chỉ. Nguyên nhân bà Oanh được miễn trách nhiệm hình sự được Viện Kiểm sát xác định: Hành vi vi phạm pháp luật của bị can Phan Thị Oanh là rõ ràng, nhưng lại là người tham gia ký tên vào đơn tố cáo các sai phạm của Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức trước khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án.
T.Minh
Từ khoá: bão trách nhiệm bệnh viện không có bảo hiểm tiền bảo hiểm bệnh nhân kết quả lợi dụng chức vụ nhân viên bảo hiểm
xem tin tức
Bảo hiểm Viễn Đông hành động vì cộng đồng
(CAO) Là doanh nghiệp tư nhân lâu đời nhất Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, Công ty cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) đã tạo dựng được tên tuổi và chỗ đứng vững chắc trên thị trường bảo hiểm trong và ngoài nước. Cổ đông chính là các tổ chức thương mại, tài chính, ngân hàng ngoài quốc doanh có uy tín và tiềm lực. Bên cạnh đó đội ngũ nhân sự sống có trách nhiệm với công ty và cộng đồng, được tôi luyện qua nhiều năm VASS đối mặt với những khó khăn và thách thức để tự tin đi lên. Nhân ngày Quốc tế người khuyết tật Việt Nam, VASS đã có nhiều hoạt động mang giá trị nhân văn hướng tới cộng đồng.
Bảo hiểm Viễn Đông tặng qùa cho đồng bào bị bão lũ tại Hải Phòng
Toàn thể CBNV của Bảo hiểm Viễn Đông tình nguyện đóng góp 1 ngày lương, được số tiền 120 triệu đồng ủng hộ đồng bào vùng bão lũ vừa qua ở các tỉnh: Bình Định, Quảng Nam, Hải phòng,Thừa Thiên - Huế, Nghệ An, Quảng Ninh VASS đã thành lập Ban cứu trợ xuống tận nơi vùng lũ trao quà cho bà con. Trước đó, VASS cũng phối hợp với các doanh nhân thuộc CLB Doanh nhân Sài Gòn tổ chức chuyến thăm Trường THCS thị trấn Mỏ Cày, Bến Tre. Tại đây, đoàn đã tặng học phẩm cho 400 em học sinh vượt khó học giỏi và tổ chức khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho học sinh 8 trường của huyện. Ngoài ra VASS cũng vừa phối hợp với Lãnh sự quán Cộng hòa Nam Phi tại TP.HCM ủng hộ 100 triệu đồng xây dựng Trường mầm non tại xã Lâm San, huyện Cẩm Mỹ (Đồng Nai) và trao học bổng cho học sinh đồng bào dân tộc Chăm tại TP.HCM.
Trách nhiệm với cộng đồng, VASS cũng không quên trách nhiệm của mình với đồng nghiệp xung quanh, đặc biệt luôn quan tâm tới những đồng nghiệp có những hoàn cảnh đặc biệt là các nhân viên khuyết tật đảm nhận vai trò làm dâu trăm họ phục vụ khách hàng 24/24, trực tiếp quản lý và giữ vai trò thông suốt đường dây khẩn cấp 1900 9249 được thiết lập để hỗ trợ khách hàng nhanh nhất, mọi lúc mọi nơi.
Tháng 9-2013, Trung tâm trợ giúp khách hàng 24 giờ/7 ngày (Call Center) của VASS ra đời và đi vào hoạt động, do các em khuyết tật được đào tạo chuyên nghiệp đảm nhiệm. Thông qua đường dây khẩn cấp 1900 9249 hoặc Email: [email protected], Call Center cung cấp cho khách hàng thông tin cần thiết như chi tiết về hợp đồng bảo hiểm, quyền lợi bảo hiểm, dịch vụ cứu hộ, mạng lưới bệnh viện, phòng khám, danh sách garage, các chương trình khuyến mãi. Ngoài ra, trung tâm cũng tiếp nhận thông tin tổn thất, khiếu nại, phàn nàn của khách hàng và thu thập ý kiến đóng góp của khách hàng gửi đến Ban điều hành
Các nhân viên làm việc tại Trung tâm trợ giúp khách hàng (Call Center)
Bạn Nguyễn Thị Mỹ Ngà, một nhân viên của Call Center chia sẻ: "Người lành lặn muốn thành công phải nỗ lực hết sức mình, còn người khuyết tật thì ngoài phấn đấu của bản thân cũng cần thêm sự cảm thông, hỗ trợ từ những cộng sự xung quanh để hoàn thành mục tiêu chung của công ty. Bản thân mình cảm thấy may mắn vì được làm một công việc yêu thích với khoản thu nhập ổn định".
Còn nhân viên Nguyễn Thị Thúy cảm động trước sự quan tâm của Ban lãnh đạo công ty và đồng nghiệp: Công ty đã tin tưởng chúng em, chắp cánh cho chúng em đi lên bằng chính khả năng của mình. Chúng em cố gắng nỗ lực hoàn thiện dịch vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn để hoàn thành sứ mệnh mang đến sự hài lòng cho khách hàng".
Nói về việc nhận người khuyết tật vào làm việc, bà Vũ Thanh Nga - Giám đốc Trung tâm chăm sóc khách hàng Công ty CP Bảo hiểm Viễn Đông cho rằng, quan điểm của công ty là đối xử bình đẳng, không dựng vách ngăn đối với người khuyết tật. Điều tốt nhất mà chúng tôi có thể làm và nên làm là tạo cho các em cơ hội tự chăm lo cho bản thân và làm người có ích cho xã hội. Vì vậy, trong quá trình phân công nhiệm vụ, tôi luôn đặt khả năng của các em vào đúng vị trí, như thế sẽ giúp các em cảm thấy thoải mái vì được cống hiến và nhất định sẽ làm tốt công việc của mình. Chúng tôi luôn bên cạnh và hỗ trợ các em khi cần - bà Nga nói.
Ông Trần Hữu Tài - Phó tổng giám đốc VASS chúc mừng các nhân viên nhân Ngày Quốc tế Người khuyết tật 3-12
Hưởng ứng ngày Quốc tế người khuyết tật 3-12 với chủ đề: Phá bỏ rào cản - hướng đến một thế giới cho tất cả do Liên Hiệp Quốc phát động, VASS đã tổ chức buổi gặp gỡ, chia sẻ những ước mơ hoài bão, tặng bánh, áo thun và 500 ngàn đồng cho mỗi nhân viên khuyết tật đang làm việc tại Trung tâm chăm sóc khách hàng. Việc làm này không chỉ xóa dần mọi rào cản, tạo cho người khuyết tật cơ hội vươn lên, mà còn khích lệ họ vững tin để khẳng định chính mình qua công việc.
Từ khoá: quyền lợi bảo hiểm công ty cổ phần học sinh cộng đồng đồng bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ khách hàng bảo hiểm viễn đông hợp đồng bảo hiểm call center trách nhiệm doanh nghiệp tư nhân phi nhân thọ công ty cổ phần bảo hiểm chăm sóc khách hàng bão bảo hiểm nhân viên bảo hiểm phi nhân thọ tổng giám đốc lĩnh vực bảo hiểm thị trường bảo hiểm vass viễn đông chương trình khuyến mại công ty quốc tế người khuyết tật công ty cổ phần bảo hiểm viễn đông
tin tức hôm nay
Phó Chủ nhiệm UB các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Văn Tiên chia sẻ với phóng viên bên lề kỳ họp sáng 8/11 khi Quốc hội thảo luận về lĩnh vực BHYT.
Có ý kiến cho rằng hiện nay lĩnh vực BHYT vẫn nằm trong diện bao cấp. Ông nghĩ sao về điều này?
Thực ra một số ĐBQH nói BHYT bao cấp không hoàn toàn là đúng. Bởi đó là trách nhiệm thực hiện chính sách an sinh xã hội của chế độ chúng ta, của hệ thống chính trị đối với nhân dân.
Phó Chủ nhiệm UB các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Văn Tiên. (Ảnh: Nguyễn Dũng)
Bên cạnh đó quyền lợi của BHYT Việt Nam thấp tiếp tục là một vấn đề không đúng nữa. Ví dụ như danh mục thuốc Bộ Y tế ban hành để bệnh nhân BHYT được cấp phát hiện nay lên tới 1.143 loại.
Các chuyên gia, đại diện tổ chức quốc tế từng nói với tôi rằng: "Tại sao các vị lãng phí, vung vãi thuốc như vậy?" Ở nhiều quốc gia, số thuốc bệnh nhân BHYT thụ hưởng chỉ khoảng 600-700, cùng lắm là 800 loại là đủ.
Vậy cần phải chỉnh lý lại thế nào để không bị lãng phí, thưa ông?
Chúng ta phải xem lại mức đóng BHYT (trên 500 nghìn đồng/người/năm) thì chi như thế nào cho hợp lí. Thử nhìn lại những đối tượng đang kêu ca, thắc mắc nhiều nhất về BHYT, đó là người giàu, cán bộ công chức.
Thử hỏi những người bỏ tiền mua BHYT tự nguyện có ai chê BHYT không? Mấy triệu người đó cần đến BHYT, họ thấy đây là nguồn bảo vệ họ hữu hiệu khi ốm đau.
Xét về mặt quản lí, do mệnh giá thấp nên đây là đối tượng gây âm quỹ nhiều quá, họ đóng 1 mà họ thụ hưởng 3.
Tuy nhiên, xét trên khía cạnh nhân văn thì đây lại là một điều để xã hội hỗ trợ những người không may ốm đau nhận được sự hỗ trợ từ cán bộ công chức. Chủ yếu BHYT tự nguyện là người nghèo, người mắc bệnh mãn tính.
Nhưng trong bối cảnh nguồn ngân sách có hạn, làm sao để thực hiện chi một cách có hiệu quả?
Với số tiền ít ỏi của BHYT Việt Nam, làm sao chi hợp lí, hiệu quả là bài toán hóc búa. Nhiều ĐBQH đề nghị thu thật cao mức đóng lên. Nhưng vấn đề này chỉ tốt nếu NSNN dồi dào hoặc vào thời điểm NSNN dồi dào. Tuy nhiên, trong lúc kinh tế chưa khởi sắc để chi hợp lí, hiệu quả thì đừng chia 5 xẻ 7 mỗi nơi lạm dụng một ít là tối ưu.
Theo ông, nội dung nào được cơ quan BHYT giám sát, kiểm soát chặt?
Đó là giá thuốc. 60% tiền chi BHYT là giá thuốc, tương đương 20.000 tỉ đồng năm 2012. Rất may là mấy tháng gần đây, sau khi thực hiện thông tư mới đã tiết kiệm được gần 1.000 tỉ đồng tiền thuốc. Tôi cho rằng phải kiểm soát chặt chẽ danh mục và giá thuốc.
Kế đó là phương tiện, kỹ thuật chữa trị. Ví dụ hệ thống máy móc, vật tư giá khá đắt bởi đã được BHYT chi trả. Cùng một loại máy, ở tỉnh A là 50 triệu nhưng tỉnh B lại là 70-80 triệu đồng. Vấn đề này cũng phải kiểm soát bởi nó dễ gây phản cảm trong dư luận, xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho bệnh nhân dễ dàng tiếp cận các phương pháp chữa bệnh hiện đại, hiệu quả.
Thứ 3, làm thế nào để bệnh nhân BHYT đến đúng nơi họ cần. Một trong những mô hình trên thế giới triển khai rất hiệu quả mà chúng ta nên vận dụng - đó là bác sĩ gia đình. Ở nước ngoài, người bác sĩ gia đình chăm sóc cho vài trăm đến cả nghìn bệnh nhân trong cộng đồng. Bác sĩ đó có trong tay hồ sơ sức khỏe của từng người dân, lịch sử bệnh lí để khi họ mắc bệnh thì bác sĩ cộng đồng chỉ định họ đến đâu cho hợp lí.
Hiện tại, cơ chế chuyển tuyến viện vẫn theo mô hình hành chính, tức là cứ tuyến dưới tự động lên tuyến trên mà không quan tâm tuyến trên đó có đủ năng lực khám chữa bệnh hay không?! Nếu giải quyết được vấn đề này thì thực tế "tiền ít" của BHYT sẽ giải quyết được phần nào.
Một vấn đề khác cũng rất được quan tâm là tình trạng trùng BHYT. Thưa ông, làm thế nào để khắc phục được tình trạng này?
Vấn đề trùng thẻ BHYT, hiện chúng ta đang rà soát để xem trách nhiệm tại cơ quan nào? Vì BHYT chỉ là đơn vị in và cấp thẻ BHYT sau khi nhận danh sách gửi lên. UBND các cấp mới là nơi cung cấp danh sách BHYT và chịu trách nhiệm chính về vấn đề này.
Tuy nhiên chúng ta đang thiếu cơ chế sàng lọc nhóm này. Điều cần nhất hiện nay là mỗi xã phải có 1 cán bộ chuyên trách về lĩnh vực BHYT.
Xin cảm ơn ông!
Từ khoá: gia hiệu quả bệnh nhân khám chữa bệnh trách nhiệm
Luật BHYT: Đề nghị tham gia BHYT phải theo hộ gia đình
VOV.VN -Điều này phù hợp với điều kiện sống hiện nay của người dân, khuyến khích thực hiện lộ trình BHYT toàn dân.
(Ảnh minh họa)
Chiều 6/11, Quốc hội nghe Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế (BHYT). Về cơ bản, bố cục của dự thảo Luật giữ nguyên như Luật hiện hành, phạm vi sửa đổi là 20 điều trong tổng số 52 điều của Luật, không bổ sung thêm điều mới.
Đề nghị bổ sung hộ gia đình tham gia BHYT
Về quy định bắt buộc tham gia BHYT, bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết, nên giữ như quy định hiện hành về việc mọi đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT, nhưng phải bổ sung cơ chế tham gia BHYT phải theo hộ gia đình (để tránh tình trạng chỉ người ốm mới tham gia BHYT).
Điều này phù hợp với điều kiện sống hiện nay của người dân, đồng thời Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ và có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ để thực hiện được lộ trình BHYT toàn dân.
Để thuận lợi trong quản lý và tổ chức thực hiện, dự thảo Luật đã sắp xếp lại 25 nhóm đối tượng thành 5 nhóm theo trách nhiệm đóng BHYT gồm: Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng; nhóm do ngân sách Nhà nước đóng; nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng; và nhóm tự đóng BHYT.
Cùng chi trả 5% để hỗ trợ người nghèo
Theo Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, qua 4 năm triển khai Luật BHYT, việc thực hiện cùng chi trả đã dần ổn định, góp phần chống lạm dụng quỹ BHYT và bảo đảm an toàn quỹ.
Tuy nhiên, mức cùng chi trả đối với người nghèo, một bộ phận thân nhân người có công chưa hợp lý, do đó, quy định các đối tượng này cùng ở mức chi trả 5% sẽ hợp lý hơn. Tuy nhiên, để khắc phục việc người nghèo khó khăn khi cùng chi trả 5%, nên quy định theo hướng sử dụng quỹ KCB cho người nghèo ở địa phương cùng chi trả 5% để hỗ trợ người nghèo, quy định này cũng sẽ góp phần tránh lạm dụng quỹ BHYT.
Về quy định mức tối đa cùng chi trả KCB BHYT: Bộ trưởng Y tế cho biết, hiện nay, dịch vụ kỹ thuật y tế và thuốc ngày càng hiện đại, hiệu quả, đã cứu sống nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo nhưng giá cả cũng cao hơn nhiều. Vì vậy, bệnh nhân BHYT thuộc diện cùng chi trả 20% chi phí cũng phải trả nhiều tiền hơn. Tuy nhiên, nếu số cùng chi trả quá lớn, vượt khả năng bệnh nhân thì BHYT sẽ mất ý nghĩa bảo vệ của chính sách BHYT.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, việc quy định mức cùng chi trả 5% đối với một số nhóm đối tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, người thuộc diện bảo trợ xã hội và 20% đối với thân nhân người có công, người thuộc hộ cận nghèo đã hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và khả năng chi trả của người bệnh, nhất là những người mắc các bệnh nặng, bệnh mạn tính (chạy thận nhân tạo chu kỳ, ung thư, bệnh nội tiết, phẫu thuật tim mạch...) do không có khả năng chi trả cũng như tính phức tạp trong việc tổ chức thực hiện.
Một số dịch vụ không thuộc phạm vi thanh toán BHYT quy định còn chưa hợp lý như: quỹ BHYT không thanh toán đối với trẻ em bị cận thị, tật khúc xạ của mắt nặng cần can thiệp, điều trị; một số quy định rất khó thực hiện trong thực tế như quy định về thanh toán BHYT đối với tai nạn giao thông do thủ tục, thời gian xác định có vi phạm pháp luật hay không nên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia BHYT.
Việc quy định cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh không có giới hạn đã làm hạn chế việc tiếp cận dịch vụ của các trường hợp mắc bệnh phải điều trị có chi phí khám bệnh, chữa bệnh lớn (ung thư, chạy thận nhân tạo...).
Việc quy định quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trực tiếp cho người có thẻ BHYT trong các trường hợp khám bệnh, chữa bệnh trái tuyến, vượt tuyến đã gây khó khăn cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, bệnh viện và cả người bệnh.
Đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ
Đối với việc lồng ghép giới trong dự án Luật, quy định khuyến khích tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình sẽ làm tăng số phụ nữ tham gia BHYT, vì trên thực tế, phụ nữ chưa phải là ưu tiên trong gia đình để được lựa chọn mua BHYT tự nguyện.
Người nghèo nói chung và phụ nữ, trẻ em nghèo nói riêng thường có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao hơn, nhưng chủ yếu họ sử dụng dịch vụ y tế xã/huyện, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, ở miền núi; đồng thời, quy định phân cấp quản lý quỹ BHYT cho địa phương sẽ tạo điều kiện để phụ nữ, trẻ em được đảm bảo tốt hơn quyền lợi BHYT, giảm việc chuyển kết dư của quỹ BHYT từ miền núi về đồng bằng và quy định nguồn đóng BHYT cho phụ nữ nghỉ thai sản sẽ đảm bảo công bằng giữa các đối tượng tham gia BHYT./.
Lại Thìn/VOV online
Từ khoá: luật bảo hiểm người lao động bão bệnh hiểm nghèo nhà nước tai nạn giao thông quy định chi phí người dân bảo hiểm xã hội gia tổ chức bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ bảo hiểm dịch vụ quyền lợi trách nhiệm gia đình quản lý quỹ người nghèo khám bệnh chữa bệnh thanh toán người sử dụng lao động
tin tuc an ninh trong ngay