"Có những người đàn ông đã chết ở tuổi hai mươi lăm, nhưng đến năm bảy mươi lăm tuổi mới được chôn cất"
Trong đám tang của một người đàn ông, người ta thường kể rất nhiều về việc ông đã sống có trách nhiệm ra sao. Ông là người chồng tử tế. Người cha chịu thương chịu khó. Người anh cả biết lo cho gia đình. Người hàng xóm hiền lành. Người đồng nghiệp ít nói nhưng đáng tin. Những câu ấy bay quanh quan tài như những vòng khói nhang, đẹp, buồn, và có phần rất quen. Tang lễ nào cũng cần vài câu như vậy, để người sống thấy người đã khuất đã được ghi nhận bằng một cách nào đó.
Nhưng ít ai hỏi, phần nào trong người đàn ông ấy đã rời khỏi đời này từ rất lâu trước khi trái tim ông ngừng đập. Hiếm ai hỏi ông từng muốn trở thành ai trước khi trở thành chồng, thành cha, thành trụ cột, thành người đàn ông cả đời được khen là biết lo. Ít ai hỏi có bao nhiêu lần trong đời, ông đã tự gấp mình lại cho vừa với những vai mà người khác cần. Ít ai hỏi trong suốt năm mươi năm đứng thẳng ấy, có đoạn nào ông đã sống như một cái bóng biết đi làm, biết trả hóa đơn, biết sửa mái nhà, biết ký tên vào học bạ của con.
Tôi luôn thấy câu "có những người đàn ông đã chết ở tuổi hai mươi lăm, nhưng đến năm bảy mươi lăm tuổi mới được chôn cất" đau ở chỗ đó. Nó nói về một kiểu chết âm thầm hơn, khó gọi tên hơn. Một người vẫn còn thở, vẫn nói chuyện, vẫn đi làm, vẫn cưới vợ, vẫn sinh con, vẫn đi đám giỗ, vẫn cầm ly rượu trong bữa tất niên, nhưng phần sống nhất trong họ đã ngừng cựa quậy từ lâu. Thân thể tiếp tục. Vai trò tiếp tục. Con người thật bị bỏ lại đâu đó ở một khúc tuổi trẻ.
Người đàn ông đầu tiên tôi muốn kể là một người từng rất thích vẽ. Tôi không biết tên thật của ông, vì câu chuyện này được một người cháu kể lại trong một buổi cà phê muộn. Chỉ biết thời trẻ, ông có một cuốn sổ ký họa luôn mang theo trong túi. Ông vẽ mái nhà, hàng cây, khuôn mặt những người ngồi chờ xe, bàn tay của mẹ đang nhặt rau, chiếc xe đạp dựng bên tường. Ông vẽ bằng một thứ kiên nhẫn rất lạ, như thể thế giới nếu được nhìn đủ lâu thì sẽ mềm ra trước mắt mình.
Năm hai mươi lăm tuổi, ông chuẩn bị thi vào một trường mỹ thuật. Không phải kiểu mơ cho sang miệng. Ông đã học, đã chuẩn bị, đã gửi vài bức tranh cho một người thầy cũ xem. Người thầy bảo ông có con mắt nghệ thuật. Một câu khen rất ngắn, nhưng với một người trẻ, đôi khi một câu như thế đủ để dựng lên cả một con đường. Ông tin mình có thể làm được điều gì đó với đôi tay của mình. Không lớn lao đến mức thành danh. Được sống gần với thứ khiến mình thấy lòng có ánh sáng.
Rồi cha ông bệnh nặng. Nhà lúc ấy còn nợ tiền thuốc, mẹ già yếu, dưới ông còn hai đứa em đang học. Một người hai mươi lăm tuổi bỗng được đặt vào giữa nhà như cái cột. Không ai nói thẳng rằng con phải bỏ giấc mơ đi. Nhưng có những hoàn cảnh đâu cần nói. Chỉ cần nhìn mẹ ngồi tính tiền thuốc, nhìn em gái giấu giấy báo học phí trong cặp, nhìn cha nằm thở khó trên giường, người ta tự biết phần nào của mình phải chết trước để những phần khác trong gia đình được sống tiếp.
Ông nhận một công việc ở xưởng in. Ban đầu ông nói làm tạm vài tháng, gom ít tiền rồi tính tiếp. Cái chữ "tạm" trong đời nghèo rất đáng sợ. Nó bắt đầu bằng một lời hứa với bản thân, rồi kéo dài đến hết tuổi trẻ. Vài tháng thành vài năm. Vài năm thành một chức tổ trưởng. Sau đó ông cưới vợ. Sinh con. Mua một căn nhà nhỏ. Sổ ký họa được cất trong ngăn kéo, dưới mấy tập hóa đơn điện nước. Thỉnh thoảng ông vẫn mở ra xem, nhưng càng về sau càng ít. Có những thứ nếu nhìn lâu quá, người ta sẽ không chịu nổi việc mình đã phụ nó ra sao.
Người ngoài nhìn vào đời ông có thể nói ông là người đàn ông tốt. Và đúng, ông tốt. Ông nuôi em ăn học. Ông trả nợ cho gia đình. Ông chăm cha đến ngày cuối đời. Ông làm chồng không để vợ con thiếu thốn. Ông sống ngay thẳng, không rượu chè quá đà, không cờ bạc, không gây chuyện với ai. Một đời như thế đáng được kính trọng. Nhưng nếu dừng lại ở đó, ta vẫn bỏ quên một nửa sự thật. Vì phía dưới sự tử tế ấy là một giấc mơ bị gấp lại quá sớm, rồi không bao giờ được mở ra nữa.
Có một dạng tự bỏ rơi chính mình mà tâm lý học gọi là Self abandonment. Nghe có vẻ học thuật, nhưng đời thường lắm. Nó là khi một người bỏ qua nhu cầu, mong muốn, tiếng nói và phần sống riêng của mình để làm điều người khác cần. Có lúc đó là tình yêu. Có lúc đó là trách nhiệm. Có lúc đó là lựa chọn cần thiết. Nhưng nếu sự bỏ rơi ấy kéo dài quá lâu, con người sẽ dần quên mất mình từng cần gì. Người đàn ông trong câu chuyện ấy không oán ai. Chính điều đó mới buồn. Ông quá tử tế để oán thán, nhưng sự tử tế ấy không làm cho giấc mơ của ông có thể sống lại.
Đến cuối đời, khi ông mất, người cháu dọn nhà mới tìm thấy cuốn sổ ký họa. Giấy đã vàng, vài trang có vết ẩm, những đường chì vẫn còn rất mềm. Trong đó có một bức vẽ dở dang. Một người đàn ông trẻ ngồi bên cửa sổ, mặt nhìn ra ngoài. Bức ấy chưa hoàn thành. Không ai biết ông vẽ ai. Có thể là một người lạ. Có thể là chính ông. Người cháu kể, cả nhà hôm đó đã khóc rất nhiều, vì lần đầu tiên họ nhìn thấy một người khác bên trong người đàn ông mà họ vẫn gọi là ông, là bố, là bác. Một người từng có đôi mắt riêng, trước khi đôi mắt ấy chỉ còn nhìn vào bổn phận.
Tôi không nghĩ câu chuyện ấy nên được kể để trách gia đình ông. Nghèo khó nhiều khi chẳng cho ai lựa chọn. Có những giai đoạn, nếu một người không đứng ra gánh, cả nhà sẽ đổ sập. Nhưng điều đáng nghĩ là sau khi một người đã gánh, xã hội thường khen họ gồng gánh giỏi, hiếm khi hỏi họ có bị đổ gãy chỗ nào không. Chúng ta rất biết ơn những người đàn ông hy sinh. Nhưng lòng biết ơn đôi khi cũng là một tấm khăn phủ lên những mất mát chưa từng được gọi tên.
Người đàn ông thứ hai tôi nhớ là một người gần nhà cũ của tôi. Ông có một chiếc ghế nhựa đặt ngoài ban công. Hầu như chiều nào ông cũng ngồi đó, sau khi đã đi làm về, tắm xong, ăn cơm xong, xem qua bản tin thời sự. Ông ngồi rất lâu, tay cầm điếu thuốc nhưng nhiều lúc chẳng hút. Trong nhà, vợ ông nói chuyện với con, tiếng nồi niêu, tiếng tivi, tiếng điện thoại. Ngoài ban công, ông gần như bất động, như một món đồ cũ bị đem ra hóng gió.
Thời trẻ, người ta kể ông vui tính lắm. Biết đàn, biết hát, biết viết thư cho vợ. Có lần trong xóm mất điện, ông ôm đàn ra sân chung, hát mấy bài cũ cho bọn trẻ nghe. Hồi mới cưới, ông và vợ từng là cặp được nhiều người thích nhìn. Ông không đẹp trai kiểu hào hoa, nhưng có cái duyên của người biết làm cho căn phòng dễ thở hơn khi mình bước vào. Bà vợ ngày đó cũng hay cười. Hai người từng có những buổi tối ngồi trước hiên, ăn ngô luộc, nói chuyện rất lâu về tương lai.
Rồi đời sống gia đình kéo đến bằng nhịp rất thật của nó. Con ra đời. Thiếu tiền. Bố mẹ hai bên già đi. Công việc của ông lên xuống. Việc nhà, việc học của con, việc họ hàng, việc giỗ Tết, việc bệnh viện, việc vay mượn, tất cả cùng ùa vào. Những cuộc nói chuyện của hai vợ chồng dần chuyển từ "sau này mình muốn sống thế nào" sang "tháng này đóng tiền chưa", "con bị điểm kém", "mai anh về sớm được không", "mẹ anh lại gọi", "sao anh lúc nào cũng im lặng như thế". Không ai làm điều gì quá ác. Đời sống bắt đầu ăn vào những chỗ mềm nhất của tình yêu.
Có một lần, sau một trận cãi nhau khá lớn, ông muốn nói với vợ rằng ông thấy mình cô đơn. Nhưng câu ấy mắc trong cổ. Đàn ông thế hệ ông hiếm khi có ngôn ngữ để nói về cô đơn. Họ có thể nói đau lưng, đau dạ dày, thiếu tiền, mất ngủ. Nhưng nói "anh cô đơn trong chính ngôi nhà mình" thì khó quá. Ông nói được vài câu vòng vo. Bà vợ đang mệt, đang bực, đang ngập trong việc nhà và con cái, nghe xong bảo: "Anh đàn ông mà sao nghĩ nhiều thế. Lo làm ăn đi, nhà này ai chẳng mệt."
Câu ấy không phải một nhát dao chí mạng. Nhưng có những câu nói vẫn đủ đóng cửa một căn phòng. Sau lần đó, ông ít nói hơn. Vẫn đi làm. Vẫn đưa tiền. Vẫn sửa bóng đèn. Vẫn chở vợ đi khám khi bà đau dạ dày. Vẫn ngồi họp phụ huynh. Vẫn làm người chồng đúng chức năng. Phần muốn được hiểu trong ông bắt đầu rút vào một nơi rất sâu. Có lẽ chính ông cũng không nhận ra mình đang biến mất từng chút một.
Emotional Suppression, tức là kìm nén cảm xúc, là một thứ nhiều đàn ông được dạy từ rất sớm mà không ai gọi tên nó là bài học. Con trai không khóc. Đàn ông đừng kể lể. Chuyện nhỏ đừng làm quá. Là chồng thì phải chịu. Là cha thì phải vững vàng. Những câu ấy nghe qua như rèn bản lĩnh, nhưng nếu dùng suốt một đời, nó biến cảm xúc thành một căn phòng bị khóa trái. Người đàn ông trong câu chuyện này không hề hết cảm xúc. Ông đã học được cách cất nó vào trong, không đưa ra nữa. Và thứ không được đưa ra ánh sáng lâu ngày sẽ lên mốc trong im lặng.
Con cái lớn lên nhớ ông là người ít nói. "Bố em hiền, nhưng ít chia sẻ." Câu đó nghe rất bình thường. Nhưng tôi luôn tự hỏi, có bao nhiêu người cha bị con cái nhớ nhầm như vậy. Ít nói đôi khi là dấu tích của những lần nói ra mà không được nghe. Một người bị gạt đi đủ lâu sẽ thôi gõ cửa. Không phải vì trong phòng không còn ai. Mà vì họ đã tin rằng bên ngoài chẳng ai chờ.
Ở tuổi ngoài sáu mươi, ông bị bệnh. Những năm cuối đời, ông gần như chỉ quanh quẩn trong nhà. Vợ ông khi ấy cũng già hơn, chậm chạp hơn, trầm lắng hơn. Có những chiều bà mang trà ra ban công ngồi cạnh ông. Hai người không nói nhiều. Một lần, bà hỏi: "Ông có gì nuối tiếc không?" Ông nhìn xuống sân rất lâu rồi bảo: "Cũng chẳng biết nữa." Câu trả lời ấy làm tôi đau hơn mọi lời than vãn. Vì khi một người đã im quá lâu, đến cả nỗi tiếc cũng mất hình dạng. Họ không còn biết mình tiếc điều gì, chỉ biết có một phần đời đã trôi qua mà họ chưa từng được bước vào hẳn.
Ngày ông mất, cái ghế nhựa ngoài ban công vẫn còn. Vài hôm sau, người con trai về dọn nhà, định vứt đi vì nó đã cũ. Bà vợ giữ lại. Bà bảo để đó. Không ai hỏi vì sao. Có thể bà muốn giữ một dấu ấn. Có thể bà biết đó là nơi ông đã ngồi suốt bao năm với những điều không nói. Cái ghế ấy, nhìn cho kỹ, giống một ngôi mộ nhỏ hơn tang lễ. Vì có những người đàn ông không chờ đến lúc chết mới nằm yên. Họ đã ngồi yên trong đời mình từ rất lâu.
Câu chuyện thứ hai làm tôi nghĩ nhiều về hôn nhân. Đàn ông trong hôn nhân nhiều khi chết vì quá lâu không được lắng nghe như một con người có cảm xúc. Điều này không có nghĩa đàn ông vô tội trong mọi cuộc hôn nhân. Có những người đàn ông im lặng vì lười đối thoại, vì trốn tránh trách nhiệm, vì dùng sự im lặng như một cách trừng phạt. Nhưng cũng có những người im lặng vì họ thật sự đã học được rằng nói ra chẳng giải quyết được gì. Và một cuộc hôn nhân mà một người không còn nơi để nói, sớm muộn cũng sẽ thành một căn nhà có tiếng người nhưng thiếu tiếng lòng.
Người đàn ông thứ ba là kiểu người ai cũng nể. Ông làm kinh doanh, xây được cả một cơ ngơi, cho con học trường tốt, lo cho cha mẹ hai bên, giúp em trai mở cửa hàng, cho họ hàng vay tiền, đi đám nào cũng được mời ngồi mâm trên. Ông có dáng của người quen quyết định nhanh. Nói chuyện ít, nhưng câu nào cũng chắc nịch. Trong mắt nhiều người, ông là mẫu đàn ông thành đạt: có tiền, có uy quyền, có trách nhiệm, có khả năng đứng ra lo mọi việc.
Nhưng người con gái của ông từng kể một điều rất khác lạ. Cả nhà cô sợ lúc ông bị ốm. Không phải vì thương theo cách bình thường, mà vì nhà đã quen với việc ông là người không được phép ốm. Ông ngã xuống một hôm, mọi thứ rối ngay. Tiền đang nằm đâu. Hợp đồng nào cần ký. Thuốc của bà nội ai mua. Học phí của cháu nào ông đang giúp. Khoản nợ của cậu em bên ngoại xử lý ra sao. Những thứ ấy trước giờ ông lo một mình, đến mức cả nhà vừa dựa vào ông, vừa vô thức nghĩ ông là một thứ cơ sở hạ tầng không bao giờ hỏng.
Từ năm hai mươi lăm tuổi, ông đã bắt đầu làm người gánh vác. Nhà nghèo, ông đi buôn sớm. Ban đầu là kiếm tiền phụ cha mẹ. Sau đó là trả nợ. Rồi nuôi em. Rồi cưới vợ. Rồi sinh con. Rồi mở rộng làm ăn. Rồi mua đất. Rồi lo cho hai bên họ hàng. Người ta khen ông giỏi. Ông cũng quen với lời khen đó. Nhưng lời khen đôi khi cũng là một cái bẫy rất êm đềm. Khi cả đời được khen là trụ cột, người ta sẽ thấy xấu hổ nếu một ngày mình muốn ngồi xuống.
Role Captivity, tức là bị giam trong vai trò, có lẽ là thuật ngữ hợp với kiểu đàn ông này. Một người bị mắc kẹt trong vai người kiếm tiền, người quyết định, người lo toan hết, người mạnh mẽ, người đứng mũi chịu sào, đến mức không còn được nhìn như một con người đầy đủ. Ông mang danh chồng, nhưng gia đình nhìn ông như ví tiền. Mang danh cha, nhưng người ta biết ông như người giải quyết. Mang danh anh trai, nhưng họ hàng tìm đến ông khi cần nhờ vả. Mang danh đàn ông, nhưng cả nhà đã biến ông thành cái cột treo quá nhiều thứ lên.
Có một năm ông làm ăn thất bại khá nặng. Ông giấu gia đình gần hết. Vợ biết tiền về chậm hơn. Con biết bố hay cáu hơn. Mấy đêm liền ông ngồi ngoài sân hút thuốc đến gần sáng. Không ai hỏi ông. Có thể vì không ai nghĩ ông cần được hỏi. Có thể vì ai cũng sợ nếu hỏi ra sẽ thấy cả cái cột đang nứt. Ông xoay xở, vay mượn, bán một mảnh đất, cứu được công việc. Sau này, chuyện ấy được kể như một chiến tích. "Ông ấy giỏi thật, một mình gánh vác qua sóng gió." Nhưng tôi tự hỏi, trong những đêm đó, ông đã sợ hãi đến mức nào.
Người đàn ông bị biến thành trụ cột thường thiếu một thứ rất căn bản: cảm giác được yêu ngoài năng lực cung cấp. Họ được cần rất nhiều, nhưng chưa chắc được thấy. Được hỏi "tháng này chuyển tiền chưa", nhưng ít được hỏi "anh có ổn không". Được nhờ giải quyết mọi thứ, nhưng ít được cho phép yếu đuối. Được ca ngợi khi lo được cho cả nhà, nhưng nếu một ngày lo không nổi, họ sợ tình yêu cũng tụt theo nỗi lo đấy. Nỗi sợ hãi ấy không phải lúc nào cũng đúng. Nhưng nếu một đời sống quen vận hành bằng sự cung cấp của họ, nỗi sợ ấy rất có cơ sở.
Trong gia đình ông, ai cũng thương ông theo cách của mình. Vợ ông chăm bữa ăn, nhắc uống thuốc, chuẩn bị quần áo. Con cái kính trọng, nghe lời, không dám làm phiền ông. Họ hàng biết ơn. Nhưng tình thương ấy thường đi kèm một khoảng cách. Ông quá lớn trong mắt họ, nên chẳng ai nghĩ ông cũng có lúc nhỏ bé. Ông đã quá quen lo lắng cho người khác, nên người khác không biết cách lo ngược lại cho ông. Có những người đàn ông cả đời được dựng tượng ngay trong nhà mình, và vì đã thành tượng, họ không còn được ôm như người sống.
Khi ông bảy mươi tuổi, sức khỏe yếu đi nhanh. Bệnh tim, tiểu đường, huyết áp, đủ cả. Bác sĩ dặn nghỉ ngơi. Ông vẫn hỏi chuyện công ty, vẫn gọi điện nhắc con trai kiểm hàng, vẫn hỏi em út ngoài quê đã sửa nhà chưa. Một lần con gái ông gắt lên: "Bố nghỉ đi được không?" Ông im lặng. Một lúc sau ông nói: "Bố nghỉ thì ai lo." Câu ấy vừa đáng thương vừa đáng sợ. Vì trong đầu ông, việc được nghỉ gần như không tồn tại. Ông không còn phân biệt được mình sống để lo, hay lo để được phép sống.
Đến ngày ông mất, bài điếu văn dài và rất đẹp. Người ta nhắc đến công lao của ông với gia đình, sự nghiệp, họ hàng, bạn bè. Nhắc ông là trụ cột. Nhắc ông cả đời không ngơi nghỉ. Nhắc ông đã lo cho bao nhiêu người. Ai cũng khóc. Những giọt nước mắt ấy rất thật. Nhưng tôi cứ nghĩ, nếu ông nghe được, có khi ông vẫn sẽ thấy thiếu một câu. Một câu rất nhỏ thôi. Rằng ông không cần phải gánh vác nữa. Rằng chúng tôi thương ông cả khi ông không lo được gì. Rằng nếu có một đời khác, mong ông được làm một người bình thường hơn, biết mệt, biết xin giúp đỡ, biết ngồi xuống mà không thấy có lỗi.
Ba người đàn ông ấy không giống nhau. Một người chết vì giấc mơ bị gấp lại quá sớm. Một người chết vì cảm xúc bị khóa trong hôn nhân. Một người chết vì bị vai trò trụ cột nuốt mất con người. Nhưng họ gặp nhau ở một điểm: họ vẫn sống rất lâu sau khi phần sống thật nhất trong họ đã bị chôn. Họ vẫn làm đúng nhiều việc. Vẫn được khen. Vẫn được cần đến. Vẫn hoàn thành vai trò. Nhưng đời sống của họ dần trở thành một chuỗi chức năng, ít còn chỗ cho ham muốn riêng, tiếng nói riêng, nỗi niềm riêng.
Tôi không muốn viết bài này như một bản cáo trạng dành cho phụ nữ, cho gia đình, hay cho xã hội. Vì chính đàn ông cũng góp phần chôn mình. Nhiều người không chịu nói. Không chịu học cách yếu đuối một cách đàng hoàng. Không chịu nhờ giúp đỡ. Không chịu thừa nhận mình đã mất kết nối với giấc mơ, với vợ, với con, với chính mình. Có người biến im lặng thành lạnh lùng. Biến hy sinh thành cay nghiệt. Biến trách nhiệm thành quyền đòi người khác biết ơn. Nỗi đau không tự biến một người thành người tốt. Có khi nó làm họ khô héo, gắt gỏng, và làm đau cả những người quanh mình.
Nhưng trách đàn ông không biết nói, cũng chưa đủ. Từ rất sớm, nhiều người đàn ông đã được dạy rằng giá trị của họ nằm ở khả năng chịu đựng. Họ được khen khi im lặng. Được nể khi gánh vác. Được gọi là bản lĩnh khi nuốt nước mắt. Được xem là trưởng thành khi từ bỏ điều mình muốn để làm điều người khác cần. Dần dần, họ học được một bài học rất nguy hiểm: muốn được yêu, phải hữu ích. Muốn được tôn trọng, phải mạnh mẽ. Muốn được ở lại trong mắt gia đình, phải đừng trở thành gánh nặng.
Một xã hội dạy đàn ông phải sống có ích mà bỏ qua việc dạy họ sống thật sẽ tạo ra rất nhiều cái xác biết đi trong hình hài người chồng, người cha, người con trưởng, người trụ cột. Những cái xác ấy không nằm ngoài đường. Họ ngồi ở bàn ăn. Lái xe đưa con đi học. Ký giấy vay ngân hàng. Sửa vòi nước lúc mười một giờ đêm. Đi làm với đôi mắt đỏ. Cười trong ảnh gia đình. Uống rượu ở tiệc cưới. Nói "bình thường" mỗi khi ai hỏi dạo này thế nào. Và mọi người tin họ bình thường, vì họ vẫn vận hành được.
Có lẽ điều tử tế nhất ta có thể làm với những người đàn ông quanh mình là nhìn họ như một con người, ngoài vai trò. Đừng nhìn cha mình qua vai trò đóng học phí. Đừng nhìn chồng mình qua vai trò kiếm tiền hoặc sửa đồ. Đừng nhìn anh trai mình qua vai trò đứng ra lo việc nhà. Đừng nhìn con trai mình qua hình mẫu đứa trẻ sau này phải mạnh mẽ. Thỉnh thoảng hỏi họ từng muốn gì. Đang sợ gì. Có điều gì lâu rồi chưa nói không. Có phần nào trong họ đã bị bỏ lại đâu đó trên đường đời không.
Với đàn ông, có lẽ cũng cần tự hỏi mình vài câu trước khi quá muộn. Mình đang sống, hay đang hoàn thành vai diễn mà cuộc đời phân cho . Mình còn điều gì khiến tim rung động không. Mình có ai để nói thật lòng không. Mình có đang dùng trách nhiệm để trốn khỏi việc đối diện với chính mình không. Mình có đang bắt người khác trả giá cho những hy sinh mà họ chưa từng được hỏi ý kiến không. Mình có thể làm một người tốt mà vẫn giữ lại một phần sống cho mình không.
Sống vì gia đình là một điều tốt đẹp. Hy sinh vì người mình yêu là đáng quý. Làm một người đàn ông có trách nhiệm là đáng trân trọng. Nhưng cái đẹp nào nếu đi quá xa cũng có thể thành một nấm mồ. Một người sống để trả nợ đời, trả nợ gia đình, trả nợ vai trò, đến một lúc sẽ chẳng còn biết mình hiện diện trên đời vì điều gì ngoài việc không làm ai thất vọng. Một đời cố không làm ai thất vọng, thường kết thúc bằng việc làm chính mình thất vọng, trong im lặng.
Tôi nghĩ cái chết tinh thần đáng sợ hơn cái chết sinh học ở chỗ nó không có tang lễ. Không ai mặc áo đen khi một chàng trai bỏ cây đàn vào tủ và không bao giờ mở lại. Không ai thắp nhang khi một người chồng quyết định từ nay không nói về nỗi cô đơn của mình nữa. Không ai rải hoa khi một người cha biến mình thành cái máy kiếm tiền và quên mất mình cũng từng muốn được ôm. Những cái chết ấy diễn ra trong ngày thường, dưới ánh đèn bếp, trong tiếng chuông điện thoại, giữa đống giấy tờ, lặng lẽ, đều đặn và rất khó nhận ra.
Đến năm bảy mươi lăm tuổi, khi thân thể họ thật sự nằm xuống, người ta mới khóc. Khóc vì mất một người cha. Một người chồng. Một người ông. Một người đàn ông tốt. Những giọt nước mắt ấy không muộn nếu dành cho thân thể vừa rời đi. Nhưng có thể đã muộn với phần con người thật từng cần được nhìn thấy từ năm mươi năm trước. Có những câu hỏi nếu để đến bên quan tài mới hỏi, thì người cần trả lời đã im lặng mãi rồi.
Có những người đàn ông ra đi ở tuổi bảy mươi lăm, nhưng nếu chịu khó nhìn kỹ, ta sẽ thấy chiếc quan tài đầu tiên đã được đóng từ năm họ hai mươi lăm tuổi. Nó đóng bằng trách nhiệm, im lặng, nỗi sợ làm người khác thất vọng, và những giấc mơ bị gấp lại quá sớm.
Đến ngày tang lễ, người ta chôn phần thân thể.
Còn phần sống nhất trong họ, nhiều khi đã nằm dưới đất từ rất lâu rồi.