We stood in rain, our gazes locked in place,
No blame to share, no sorrow on each face
Just slight regret for what we couldn't chase
No tears were shed, no farewell words were said
My heart burned warm but silence filled my head.
Those faded months now drift so far away
When lips met lips in passionate display
Now sadness veils the path where once we'd stray
First love departs today.
After these years together, now we bow goodbye
Walk step by step apart like strangers passing by.
Those days flow endless, none to wait for now
In depths of mind, no lingering thoughts allow.
On lonely winter nights apart,
Missing someone far away from heart
And that shadow unconsciously holds me tight
Embracing all my sorrow through the night.
Blame myself for trusting words that promised not to part
Blame myself for dreaming love would stay within my heart
Then you left without a warning sign
While my heart still called you mine
Lost and undefined
Peace now split in two
Since that day we're through
We don't need each other anymore
A scar that cuts down to my core
Time, please heal what I endure
I've cried until I can't cry more
In this world of changing hue
From here I'll pack my heart away
From now I'll learn self-love to stay
Farewell to dreamy years that passed us by
Pure love that knew no lie
Farewell to countless moments that we shared
When truth was all we dared
Rain falls, have you forgot?
Regrets fill every spot
Who lives stuck in memories of what's not?
Who cries teardrops so hot?
I call your name in vain
A memory that won't wane
The path we walked together side by side
Those moments we did bide
Learning loneliness against the tide
Past turns to ash inside
From here I'll pack my heart away
From now I'll learn self-love to stay
Since that day we're through
We don't need each other anymore
A scar that cuts down to my core
Time, please heal what I endure
I've cried until I can't cry more
In this world of changing hue
From here I'll pack my heart away
From now I'll learn self-love to stay
Though I wished to forget
My heart keeps memories set
The path we walked together side by side
Those moments we did bide
Learning loneliness against the tide
Past turns to ash inside
From here I'll pack my heart away
From now I'll learn self-love to stay
Blame myself for trusting words that promised not to part
Blame myself for dreaming love would stay within my heart
Rain falls, have you forgot?
Regrets fill every spot
Who lives stuck in memories of what's not?
Who cries teardrops so hot?
Về bản chất thì subliminal (sub) là một đoạn âm thanh có chứa những thông điệp/câu khẳng định bị bóp méo/tua nhanh/chỉnh nhỏ/xếp chồng khiến ý thức không tiếp thu được nhưng tiềm thức vẫn tiếp thu và tin tưởng/tuân theo chúng và tạo ra kết quả mà chúng ta nhận được. Đoạn âm thanh đó có thể được thêm ASMR (tiếng lửa/gió/mưa/nước/ồn trắng) để che đi dưới nền của những bản nhạc (không lời hoặc có lời). Tóm lại, một bản sub bao gồm:
Nhạc (có hoặc không) - nếu không có nhạc, bản sub đó là calm ver. (có ASMR) hoặc silent ver. (hoàn toàn im lặng)
ASMR (có hoặc không) - được thêm vào để át đi tiếng khẳng định và giúp thư giãn
Tần số/ frequency (có hoặc không)
Nhịp song âm/ binaural beat (có hoặc không - nếu có thì phải dùng tai nghe) - là một dạng âm thanh đặc biệt làm thay đổi tần số sóng não của người nghe
Những câu khẳng định (buộc phải có, đây là mấu chốt của một bản sub)
Thực tế, chưa có cơ sở khoa học chính thống nào chứng minh cho hiệu quả của subliminal cũng như là sự hoạt động của subliminal. Những kiến thức về subliminal được truyền lại đa phần là từ kinh nghiệm của những người dùng trước. Tuy nhiên, về tính hiệu quả của subliminal thì hoàn toàn có thể thấy được thông qua các review của người dùng (có đính kèm hình ảnh).
Ví dụ về một subliminal được nhiều người khẳng định là cực kỳ hiệu quả:
Tiềm thức là gì?
Tiềm thức điều khiển những hoạt động sống của con người, cả những thứ mà ý thức không điều khiển được (ví dụ: tim đập, hô hấp, tuần hoàn của máu, những thói quen và hành động trong vô thức... đây cũng là cơ sở để tiềm thức giúp thay đổi ngoại hình khi nghe sub).
Tiềm thức tin tưởng và chấp nhận mọi thứ mà nó được tiếp thu. Nếu không có sự chen ngang và phủ định của ý thức rằng “điều này thật vô lý”, “điều kia thật kỳ lạ” thì tiềm thức có thể tin tưởng mọi thứ mà bạn muốn nó tin vào, bất kể điều đó phi lý như thế nào.
Subliminal hoạt động như thế nào?
Subliminal hoạt động dựa vào tiềm thức. Những thông điệp của sub được đưa thẳng vào tiềm thức mà không thông qua ý thức (ý thức vẫn thường hay bắt bẻ thứ mà nó không xem là sự thật, còn tiềm thức lại tin vào bất cứ điều gì mà nó được tiếp thu). Vì thế, những câu khẳng định trong sub đem lại kết quả nhờ vào:
Tiềm thức tuân theo mệnh lệnh của những câu khẳng định
Dựa vào Luật Giả định (Law of Assumption): Nôm na là mọi giả định được cho là sự thật sẽ được phản ánh ra thực tại và biến thành sự thật.
Dựa vào Luật Hấp dẫn (Law of Attraction): Chúng ta sẽ thu hút bất cứ thứ gì mình hay nghĩ đến vào cuộc sống của bản thân.
Hướng dẫn sắp xếp playlist
Việc sắp xếp playlist không nhất thiết phải theo quy tắc nhất định nào cả, bởi vì tiềm thức của mỗi người có những khả năng hấp thụ thông tin khác nhau.
Cách sắp xếp playlist #1 dành cho người lười:
Flush
Booster
Sub
Thả hết tất cả những sub muốn nghe vào playlist, đặt flush và booster lên đầu, thứ tự những bản sub còn lại lộn xộn cũng được, nhưng nên xếp những bản sub có chủ đề liên quan đến nhau ở gần nhau. Bật vòng lặp (loop) cho playlist tối thiểu 6 lần/ngày.
Cách sắp xếp playlist #2:
30p booster
1-2h sub
Cách sắp xếp playlist #3:
10p booster
30p sub
Nghỉ 5–10p
30p sub
Cách sắp xếp playlist #4:
Booster => sub => booster => sub...
Một cách sắp xếp playlist hay dành cho người nghe sub bằng laptop hoặc có 2 điện thoại:
1 tab sub + 1 tab booster nghe song song với nhau
Hoặc
1 tab sub + 1 tab detachment (sự phó thác)
Một cách khác:
2 tuần đầu CHỈ NGHE 4-5 BOOSTER mà không nghe bất kỳ một sub nào khác
Kết hợp sử dụng những câu khẳng định // manifest // LoA
Sau 2 tuần, có thể nghe sub như bình thường và nhận được kết quả CỰC KỲ NHANH
Thời gian nghe: Mỗi sub có thể có thời gian nghe khác nhau, đọc kỹ mô tả để biết nên đặt vòng lặp (loop) bao nhiêu lần. Thường thì là 6 lần - 30 phút/ngày cho mỗi sub. Không nhất thiết phải nghe một ngày 4-5 tiếng. Hãy nghe trong khoảng thời gian rảnh và thoải mái.
Mùa đông đến với chúng ta, mang theo những lễ hội tưng bừng, hương chocolate và bánh nướng thơm nức, bầu không khí lạnh giá, và tuyết rơi ở những xứ lạnh. Còn với những họa sĩ, họ nhìn thấy gì ở mùa đông, khi thời tiết khắc nghiệt và ảm đạm nhất trong năm? Có thể đó là tình yêu thiên nhiên, sự hòa hợp của người và vật, niềm cảm thông với dân lao động chịu thương chịu khó, những cuộc vui chơi và tiệc tùng trên băng, hay là một ước mong về cuộc sống êm đềm và ấm áp.
Cảnh mùa đông thường khó vẽ hơn so với cảnh mùa hè và là chủ đề tương đối hiếm trong nghệ thuật phương Tây cho đến đầu thời kỳ Phục hưng. Là một trong sáu bức tranh đại diện cho các mùa được vẽ vào cuối thế kỷ XVI, tác phẩm Những người thợ săn trong tuyết của Pieter Bruegel Lớn đánh dấu sự thay đổi lớn từ phong cách đại diện của từng mùa mang tính biểu tượng - một phong cách truyền thống ở châu Âu trước đây - sang phong cách tả thực. Hiện nay chỉ có năm bức trong loạt tranh vẫn còn tồn tại, bức tranh vẽ cảnh mùa hè đã bị thất lạc vĩnh viễn.
Những người thợ săn trong tuyết mô tả cuộc sống nông thôn dân dã trong một ngày mùa đông, ba thợ săn cùng lũ chó đang trở về nhà sau một chuyến đi rừng. Chuyến đi dường như không thành công lắm, chỉ có một người vác theo chiến lợi phẩm trông từa tựa như một con cáo nhỏ. Trước mặt họ là những dấu chân bé nhỏ của một con thỏ rừng đã trốn thoát. Trải ra trước tầm mắt là thung lũng với dòng sông uốn khúc và những đỉnh núi lởm chởm phía xa. Có một cối xay nước, bánh xe đã bị đóng băng cứng lại. Dân làng đang trượt băng và chơi khúc côn cầu trên mặt hồ. Đây không phải là một phong cảnh Hà Lan điển hình, và có thể không hề giống với Hà Lan trong thực tế vào cuối thế kỷ XVI. Những năm 1560 là khi cuộc cách mạng tôn giáo bùng nổ ở Hà Lan, và Bruegel có thể đã muốn khắc họa một lý tưởng về cuộc sống nông thôn trong mơ ước của ông chứ không hẳn là những cảnh đang diễn ra trước mắt.
Hendrick Avercamp, một trong những họa sĩ phong cảnh khác ở Hà Lan thế kỷ XVII, chuyên vẽ Hà Lan vào mùa đông. Không nổi tiếng như Rembrandt hay Vermeer, nhưng những bức tranh của Avercamp được công chúng yêu thích và có giá rất cao ngay khi ông còn sống. Là một người câm điếc, bù lại ông có con mắt quan sát sắc sảo vượt trội. Các tác phẩm của ông đầy màu sắc và sống động, với những hình ảnh được chăm chút tỉ mỉ về con người hài hòa giữa cảnh vật thiên nhiên. Ông thường đưa vào tranh các hoạt động thể thao và giải trí ở Hà Lan vào đầu thế kỷ XVII, với rất nhiều bức tranh vẽ cảnh trượt băng trên những hồ nước đóng băng, một phần vì đây là môn thể thao yêu thích của ông từ thời thơ ấu, phần khác vì những thập niên cuối thế kỷ XVI (khi Avercamp còn nhỏ) là một trong những thời kỳ lạnh nhất ở châu Âu, còn được gọi là Tiểu Kỷ Băng Hà.
Hendrick Avercamp không phải là họa sĩ duy nhất say mê môn trượt băng. Những danh họa như Pierre-Auguste Renoir hay Johan Mengels Culverhouse đã khám phá ra vẻ đẹp tao nhã của môn thể thao mùa đông này và đưa những khoảnh khắc ấn tượng của nó trở thành bất tử trong tranh của mình. Trong bức Trượt băng trên sông Amstel của Adam van Breen, cả thị trấn dường như đang đổ ra vui chơi trên mặt sông. Bức tranh đã truyền tải bản chất của môn trượt băng ở Hà Lan thế kỷ XVII: đây không phải là đặc quyền của riêng một vài người hay tầng lớp nhất định, mà là một hoạt động mùa đông phổ biến và thiết thực dành cho tất cả mọi người, thuộc mọi tầng lớp trong xã hội. Còn bức Trượt băng ở gần tường thành của Anthonie Beerstaaten có vẻ như đang mô tả cảnh chơi khúc côn cầu. Tông màu nâu đỏ của bức tranh biểu hiện một ngày ngắn ngủi giữa mùa đông lạnh lẽo, tối tăm và hơi u ám, nhưng không thiếu niềm vui của những trò chơi trên băng, ví dụ như ở phía xa, có thể thấy một con ngựa đang kéo thuyền chở người vượt sông.
Bức tranh Cuộc thi Trượt băng Nữ ở Stadsgracht, Leeuwarden của Nicolaas Baur mô tả một cuộc thi trượt băng được tổ chức ở Leeuwarden, Hà Lan vào đầu thế kỷ XIX với đám đông khán giả đầy cuồng nhiệt. Trượt băng tốc độ là một trong ba loại hình trượt băng được đưa vào trong Thế vận hội Olympic mùa đông, và là một môn thể thao yêu thích của người Hà Lan. Ở New York, Mỹ, những người trượt băng (và đôi khi có cả những chú chó) thường tụ tập ở Công viên Trung tâm, như trong bức tranh của Charles Parsons. Bức tranh Lễ hội trượt băng tái hiện một sự kiện hào nhoáng tại sân băng trong nhà, được tổ chức để vinh danh con trai út của Nữ hoàng Victoria, Hoàng tử Arthur, đang sống ở Montreal vào thời điểm đó. Đặc biệt, bức tranh này là tổng hợp của hơn 150 bức ảnh, do nhiếp ảnh gia tiên phong người Canada William Notman (1826-1891) thực hiện.
Một bức tranh đậm chất lịch sử khác là Mùa đông trong bộ tranh Bốn mùa của François Boucher, biểu tượng cho phong cách Rococo thế kỷ XVIII. Thay vì miêu tả thiên nhiên hoặc những người nông dân, François Boucher lại thể hiện một đôi trai gái đang tán tỉnh nhau trên một chiếc xe trượt bằng vàng. Bức tranh được vẽ cho Bà Pompadour, tình nhân của vua Louis XV.
Bức tranh Biển băng của Caspar David Friedrich vẽ con tàu đắm khi đang thám hiểm Bắc Cực, một chủ đề bị coi là quá khác thường vào đầu thế kỷ XIX. Tảng băng trôi hoàn toàn nhấn chìm con tàu, trông giống như một tấm bia mộ. Vẻ đẹp của thiên nhiên giữa biển băng hoàn toàn lấn át cuộc sống của con người. Bức tranh vẽ cảnh bão tuyết của JMW Turner cũng mang ấn tượng tương tự. Trong đó, tướng quân xứ Carthage cùng đoàn tùy tùng bị du kích địa phương tấn công và bị vùi dập trong cơn bão tuyết tại vùng Val d’Aosta. Trận bão tuyết cuộn trào như một con sóng khổng lồ thể hiện tầm nhìn của Turner về sức mạnh thiên nhiên hùng vĩ.
Danh họa trường phái Ấn tượng Claude Monet là bậc thầy về cảnh mùa đông. Ông đã vẽ hơn 100 bức tranh về chủ đề này. Có một giai thoại rằng khi Edouard Manet được ngắm kiệt tác của Monet về mùa đông, ông đã từ bỏ ý định vẽ tranh với chủ đề tương tự. Chim ác là là bức tranh về mùa đông lớn nhất của Monet, miêu tả một chú chim ác là cô đơn trên hàng rào tại Etretat. Nhưng điều gây kinh ngạc nhất của tác phẩm này là những cái bóng đổ trên tuyết, không chỉ có màu đen mà còn có sắc xanh ấn tượng.
Sắc trắng tinh khôi của tuyết là cảm hứng cho không ít họa sĩ, như Camille Pissarro, Vincent van Gogh, Kazimir Malevich hay John Northcote Nash, dù là Paris tuyết phủ dịu dàng, cánh đồng nơi thôn quê mộc mạc hay nét trừu tượng sắc sảo và dữ dội sau trận bão tuyết. Có lẽ bởi vì tuyết trắng là chủ thể không dễ vẽ: dù trắng, nhưng không thể để trống giấy mà không tô màu, mà nếu tô màu thì tô màu gì đây, bởi sắc trắng của tuyết chẳng bao giờ đơn thuần là trắng, mà là sự hòa trộn của cả màu hồng, màu xanh, màu vàng, màu tím... thậm chí màu đen, tạo nên một khung cảnh trắng xóa nhưng vẫn mang sắc độ đậm nhạt, sáng tối, xa gần đầy ấn tượng.
Ở giai đoạn đầu sự nghiệp của mình, Wassili Kandinsky hình thành một phong cách kết hợp các tông màu khá kỳ bí. Phong cảnh mùa đông là bức tranh cuối cùng theo phong cách này trước khi ông trở lại với phong cách trừu tượng tuyệt đối. Trong tranh, bầu trời màu vàng hòa quyện với màu xanh lá cây và trắng. Đường dẫn đến ngôi nhà nhỏ ở trung tâm ánh lên màu hồng và các sườn đồi là một cuộc nổi loạn của các vệt màu ngẫu hứng. Còn Phong cảnh mùa đông của Edward Munch lại khắc họa chiều sâu của mùa đông Na Uy. Các dải màu sắc bất ngờ trên những ngọn núi phủ đầy tuyết vốn là những con lạch của màu xanh lá cây, xanh dương và màu hồng, giúp hình ảnh yên bình này hòa quyện với cảm xúc và sự phấn khích, hình thành nên tuyệt tác của Munch. Còn trong Tuyết mới rơi trên Đại lộ, con đường trắng muốt tạo nên sự tương phản hoàn toàn với những vệt màu nâu, đen và đỏ của cây cối, bầu trời và những vị khách bộ hành, tạo nên một bức tranh tỏa ra hơi lạnh của mùa đông.
Theodore Rousseau liên tục bị Paris Salon (triển lãm nghệ thuật chính thức của Học viện Nghệ thuật trong giai đoạn 1748-1890) từ chối, nhưng sau đó ông đã trở thành một trong những nhân vật hàng đầu của Barbizon - một nhóm họa sĩ giữa thế kỷ XIX thường vẽ về khu rừng Fontainebleau. Khu rừng mùa đông lúc hoàng hôn là một bức tranh lớn, chưa được hoàn thành khi Rousseau qua đời. Bức tranh không mô tả dáng vẻ chi tiết của những cây sồi trụi lá trong rừng mà là ấn tượng của chúng trong thực tế và những cảm xúc dâng trào được gợi lên từ thiên nhiên.
Họa sĩ người Ý Giovanni Segantini cũng say mê phong cảnh thiên nhiên, đặc biệt là miền núi cao, nơi mà quanh năm đều như là mùa đông. Mồ côi từ nhỏ, nghèo đói, thất học, mù chữ, phải tha hương và không có quốc tịch, nhưng Segantini có năng khiếu hội họa vượt trội và được đón nhận nồng nhiệt ở châu Âu vào cuối thế kỷ XIX. Không thể kết hôn do không có giấy tờ hợp lệ, Segantini cùng người tình và các con thường xuyên phải thay đổi chỗ ở do bị cộng đồng tẩy chay; họ rời Ý và lưu lạc đến miền núi Thụy Sĩ. Nơi đây đã mang lại một nguồn cảm hứng dồi dào và mãnh liệt cho Segantini, ông tự xây một studio di động ở trên núi cao để vẽ những bức tranh sơn dầu có kích thước khổng lồ, và qua đêm luôn tại đó. Tuy nhiên, số phận bi thảm vẫn không rời bỏ ông; cái lạnh, nhịp độ làm việc căng thẳng cùng độ cao khắc nghiệt đã ảnh hưởng đến sức khỏe của ông, ông đổ bệnh và qua đời ở tuổi 41.
Nhắc đến hội họa mùa đông, không thể bỏ qua những bức tranh vẽ cảnh mùa đông nước Nga. Mùa đông trắng xóa ở xứ sở Bạch Dương dù lạnh thấu xương nhưng vẫn luôn đẹp đến mê hồn du khách, đồng thời là nguồn cảm hứng cho bao họa sĩ, trong đó có họa sĩ Ấn tượng nổi tiếng Konstantin Korovin. Không như họa sĩ đồng hương Kazimir Malevich sử dụng những màu sắc sống động trong bức tranh phong cảnh mùa đông để thu hút mọi sự chú ý, tranh của Korovin mang vẻ đẹp tinh tế của những màu lặng, thể hiện cuộc sống nước Nga khắc nghiệt trong giá lạnh nhưng cũng rất đỗi êm ái, dịu dàng. Nhưng số lượng khổng lồ những bức tranh vẽ mùa đông nước Nga của Korovin không hẳn chỉ xuất phát từ tình yêu quê hương. Năm 1923, khi đến Paris để mở một triển lãm cá nhân, Korovin bị trộm hết tranh và rơi vào cảnh không một xu dính túi. Để kiếm sống trong những năm sau đó, ông phải sản xuất rất nhiều tranh với chủ đề mùa đông nước Nga, vốn rất được yêu thích vào thời điểm ấy.
Những bức tranh mùa đông Croatia lại mang vẻ đẹp cổ tích đầy lãng mạn. Trên những con đường nhỏ dẫn vào làng, lớp tuyết dày mịn tinh khôi chảy dài, phủ kín những mái nhà gỗ hệt như kem sữa. Những thân cây khẳng khiu, trụi lá cũng góp phần tạo nên khung cảnh mộc mạc, bình yên rất đặc biệt, lại có chút gì đó ngây thơ, trong trẻo như những bức tranh minh họa cho cuốn truyện cổ mà ta đọc hồi còn bé.
Có thể đó là nét mê hoặc của mùa đông. Dù thời tiết khắc nghiệt và phong cảnh có phần điêu tàn hơn những mùa khác, nhưng mùa đông vẫn hiện lên trong những bức tranh với muôn vàn sắc thái vô cùng đa dạng, tươi vui rực sáng hay trầm buồn u tối, mang theo linh hồn của cảnh vật và gửi gắm bao tâm tư, tình cảm của họa sĩ.
Suốt cuộc đời của danh họa Claude Monet, những khu vườn Giverny luôn là nguồn cảm hứng bất tận. Và nếu có cơ hội đến đây, bạn sẽ hiểu vì sao những khu vườn này lại có vị trí quan trọng đến như vậy đối với Monet, cũng như với những tín đồ hội họa.
"Hành hương" về thánh địa hội họa
Với những người yêu nghệ thuật, đặc biệt là những người say mê hội họa, thì Giverny quả là một thế giới thật đầy sắc màu của những kiệt tác. Làng Giverny nằm trên dốc thoải của một ngọn đồi, nhìn xuống phía tây là những cánh đồng mênh mông trải dài ra tận bờ sông Seine, nơi dòng nước chỉ còn xuôi chảy về phía đông nam thêm 72 km nữa là đến thủ đô Paris của nước Pháp. Bởi vậy, khi đến Pháp, tôi không thể bỏ qua cơ hội rẽ vào ngôi làng nhỏ xinh đẹp này để ghé thăm nhà và khu vườn trứ danh của Claude Monet.
Monet ở Giverny (1926)
Claude Monet (1840 - 1926) được xem là một trong những người khởi xướng trường phái hội họa Ấn tượng, và tên của ông từ lâu đã đồng nghĩa với những bức tranh đẹp như mơ, được lấy cảm hứng từ những khu vườn duyên dáng ở Giverny, nơi ông đã sống 43 năm cuối đời, từ năm 1883 đến năm 1926.
Sau khi Michel Monet, con trai ông, qua đời năm 1966, toàn bộ khu nhà và vườn của ông tại Giverny được di tặng cho Viện Hàn lâm Nghệ thuật Pháp. Michel Monet mong muốn những kỷ niệm và kỷ vật của người cha được chăm sóc, bảo quản một cách cẩn thận và được chia sẻ rộng rãi cho công chúng. Và từ năm 1980, ngôi nhà và khu vườn của ông đã mở cửa cho khách tham quan.
Mở cửa mỗi mùa hoa nở từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm, khu vườn luôn nhộn nhịp với những người yêu nghệ thuật từ khắp nơi trên thế giới đổ về đây để chiêm ngưỡng niềm cảm hứng của bậc thầy Ấn tượng. Trên cây cầu Nhật Bản bắc qua bờ ao nhỏ đầy hoa súng phớt hồng, trên những con đường nở rộ hoa hồng, hoa cúc và mẫu đơn, là những du khách lăm lăm cầm iPhone hoặc máy ảnh trong tay. Khi dạo bước trên những con đường đông đúc, tôi không khỏi tưởng tượng Monet sẽ nghĩ gì trước cảnh tượng nhộn nhịp đông vui tại khu vườn một thời thanh bình của ông.
“Ngoài việc vẽ và làm vườn ra, tôi chẳng giỏi bất cứ thứ gì khác… Tôi đang sống những ngày vui sướng đến phấn khích cùng cực, Giverny là một xứ sở thần tiên với tôi… Tôi đã mất nhiều thời gian để hiểu những bông hoa súng của mình… Tôi đã trồng chúng mà không nghĩ rằng có ngày sẽ vẽ chúng… Ta không thể “cảm” một cảnh sắc trong vòng một ngày… Và rồi, tôi bỗng chợt nhận ra cái diệu kỳ của bờ ao nhỏ của mình. Tôi đã lấy bảng màu của mình, và từ đó đến nay, tôi chẳng vẽ thứ gì khác nữa.”
Giverny đã lọt vào mắt xanh của Monet lần đầu tiên từ cửa sổ tàu hỏa. Ông đã bị ngôi làng nhỏ này hút hồn đến nỗi ông thề sẽ có một ngày đến sống ở đây. Năm 1883, ông đã thuê một trang trại và 7 năm sau, ông mua lại nơi này để biến thành khu vườn của riêng mình, trồng muôn loài hoa rực rỡ, đặc biệt là ao hoa súng đã trở thành niềm cảm hứng cho hơn 250 tác phẩm của ông.
Ban đầu, Monet tạo ra khu vườn trên nền một trang trại cũ và cho xây một ngôi nhà, đồng thời là xưởng vẽ. Lúc ấy, khu vườn có rất nhiều cây ăn quả, sau đó ông đã sửa sang lại thành một vườn hoa với sự giúp đỡ của các thợ làm vườn chuyên nghiệp. Một thời gian sau, ông mua một mảnh đất bên cạnh, ngăn cách với mảnh đất ban đầu là một đường tàu hỏa. Thế là khu vườn của Monet ở Giverny chia thành hai khu: một vườn trồng hoa đủ loại trước nhà gọi là Clos Normand rộng khoảng 1 ha và một vườn nước phong cách Nhật Bản bên kia đuờng để trồng hoa súng.
Hai khu vườn, một nguồn cảm hứng bất tận
Clos Normand, khu vườn ngay trước nhà, được Monet thiết kế theo kiểu Pháp, thay vì theo trường phái Anh đang thịnh hành vào đầu thế kỷ XX. Các luống hoa trổ đầy hoa diên vĩ và hoa tulip, hai trong số những loài hoa ưa thích của danh họa. Mỗi góc vườn của Monet là một bức họa điểm đầy màu sắc của các loài hoa như hoa huệ, sen cạn, thược dược xen lẫn với hoa cúc, đỗ quyên và mộc qua, nhìn qua có vẻ bất đối xứng, tuy nhiên vẫn tạo nên một khung cảnh hài hòa và tươi mát.
Lối đi giữa vườn phủ đầy hoa hồng leo quấn quýt những cành thục quỳ và sơn mai, chúng trèo qua các lan can hay trên các vòm cầu, vươn ra các lối đi, xen lẫn giữa những nụ tầm xuân. Monet thích nhất là những loài hoa có màu sắc sặc sỡ, để mọc tự nhiên, không uốn không tỉa, tạo hiệu ứng phóng khoáng và hoang dại mà người xem thường cảm nhận được trong các tác phẩm của ông. Đồng thời nó cũng là cách chủ nhân muốn bao bọc tầm mắt của khách tham quan bằng hoa từ mọi góc nhìn khi bước chân trên lối đi nhỏ len lỏi trong vườn.
Trong vườn (1895)
Vườn hoa (1901)
Vườn diên vĩ (1899-1900)
Vườn của họa sĩ ở Giverny (1900)
Vòm hoa hồng (1913)
Lối đi trong vườn ở Giverny (1901-1902)
Nhà của họa sĩ ở Giverny (1913)
Từ Le Clos Normand, tôi đi xuyên qua một đường hầm nhỏ (được ban quản lý xây dựng thêm sau này) và cứ ngỡ mình vừa mới bước qua cánh cửa thần kỳ để đến với xứ sở Mặt Trời Mọc. Khu vườn nước Nhật Bản hiện ra như một không gian thiền đúng nghĩa với ao súng, cầu gỗ, bờ tre, khóm trúc, những hàng liễu rủ bóng mơ màng… Trong tiếng chim hót líu lo và những cơn gió thoảng, tôi cảm thấy lòng mình thư thái và bình yên đến lạ.
Ban đầu, hàng xóm phản đối việc Monet muốn đào ao trồng hoa súng vì sợ ông làm... ô nhiễm môi trường, hư hại sông hồ, nhưng được sự ủng hộ của ông tỉnh trưởng, Monet bắt tay vào xây dựng khu vườn nước với những loài cây bản địa như hoa súng, hoa diên vĩ... Dựa theo những bức tranh khắc gỗ Nhật Bản mà ông sưu tầm, Monet đã xây dựng khu vườn theo kiểu Phù Tang, từ những nhịp cầu cong đến cách sắp đặt bất đối xứng các lùm hoa cũng như các lối đi. Trong thư viết cho ông tỉnh trưởng, ông còn tâm sự: Đối với tôi, hoa không chỉ để ngắm mà còn là một đề tài để vẽ.
Cây cầu Nhật Bản được dựng vào năm 1893, e ấp dưới bóng hoa tử đằng tím biếc, và ao hoa súng được Monet thường xuyên tái hiện dưới nhiều góc độ, qua nhiều mùa khác nhau trong giai đoạn từ năm 1899 đến năm 1918, từ sắc màu hoang dã rực lửa đến trừu tượng, trong hơn 250 bức tranh sơn dầu lớn hiện nằm rải rác trong các phòng trưng bày trên khắp thế giới.
Cầu Nhật Bản (1899)
Ao hoa súng (1900)
Ao hoa súng (1900-1901)
Để tạo nên khu vườn tuyệt tác này, Monet đã tận tụy và kiên trì đào xới, nhổ cỏ, tưới bón, chăm bẵm, thậm chí chuyển hướng nước từ một con sông địa phương rồi sắp xếp từng luống cây, bụi hoa để tạo ra diện mạo chính xác mà mình mong muốn. Mà trong số các hoa trong vườn, có lẽ hoa súng được Monet yêu thích và vẽ nhiều nhất. Hoa súng thu hút ông quá sức đến nỗi trong nhiều bức tranh, cảnh vật trong hồ được thu gọn trong một phần nhỏ, phần còn lại nhường cho hoa! Nhưng hoa súng không phải đột nhiên xuất hiện trong tranh của ông. Bởi khi còn trẻ, ông đã thử nhiều phong cách khác nhau, với nhiều đề tài khác nhau. Nhưng những năm cuối đời, ông chỉ chú tâm vẽ hoa súng, dưới nhiều góc độ, cùng những thay đổi về ánh sáng và bóng nước, với những nét cọ mềm mại và phóng khoáng, khi thì đơn giản, thanh thoát, tươi sáng, khi thì u tối, trầm buồn, phức tạp. Có lẽ đã thấm nhuần tư tưởng thiền của phương Đông, Monet nhìn hoa súng mà không chỉ thấy đơn thuần là hoa súng, đó là đối tượng để ông gửi gắm mọi tâm tư, tình cảm của mình, ao hoa súng như tấm gương phản chiếu của ông mà thôi.
Vì vậy, không ngạc nhiên du khách đến thăm nhà của Monet thường dừng chân bên cây cầu Nhật Bản rất lâu để ngắm hoa súng. Khu vườn đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật mà chúng ta có thể trải nghiệm bằng mọi giác quan, có thể biết chính xác điều gì đã truyền cảm hứng cho danh họa. Nhìn ao hoa súng dưới góc nhìn của Monet, như ông đã từng, thật là một trải nghiệm hiếm có và phi thường.
Hoa súng (1919)
Hoa súng (1919)
Hoa súng (1917-1919)
Ao hoa súng (1917-1919)
Hoa súng (1920)
Hoa súng (1915-1926)
Hướng dẫn viên cho biết, tại khu vườn này, từ người thợ làm vườn đến nhà quản lý đều cố hết sức để du khách được đắm chìm trong quang cảnh y như khi danh họa còn sống. Họ trồng các loại cây trong những khu nhà kính rất lớn và ươm hoa từ nhiều loại củ giống mua từ Hà Lan…
Viện bảo tàng thu nhỏ
Tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi bước vào trong nhà. Lối kiến trúc và phong cách trang trí rất phương Đông, với cách bài trí đậm chất Nhật Bản, dù Monet là người Pháp. Tuy rằng những bức tranh gốc của Monet không còn được lưu giữ tại đây, chỉ có những bản sao được trưng bày, nhưng qua đó, tôi cũng có thể thấy được một phần nét đẹp của những bức tranh nổi tiếng của ông. Tôi hòa vào dòng du khách, theo chân hướng dẫn viên tham quan phòng khách, phòng ăn và phòng ngủ, nơi cả gia đình Monet từng sống.
Du khách xếp hàng vào thăm nhà Monet
Nhờ những bức ảnh cũ và tài liệu lưu trữ, mọi chi tiết, từ cách bài trí đến nội thất, được tái dựng đúng như trong thập niên 20 của thế kỷ XX, chỉ trừ tầng hai của ngôi nhà, được coi là không gian riêng nên không được chụp ảnh như tầng một. Theo lời thuyết minh của hướng dẫn viên, cách bài trí trong các phòng ngủ chỉ được tái hiện đúng khoảng 70-80% so với thời điểm đó.
Tầng hai có hai phòng tắm và ba phòng ngủ chính, một của Claude Monet, hai phòng còn lại là của Alice và Blanche. Alice Hoschedé từng là người tình khi Monet đã kết hôn với Camille Doncieux. Năm 1892, họ thành hôn sau khi Camille qua đời năm 1879. Blanche là con gái riêng của Alice Hoschedé, năm 1897 trở thành con dâu của Monet sau khi kết hôn với Jean, người con trai cả của danh họa với người vợ đầu. Blanche được danh họa thương yêu nhất và coi như con gái ruột. Bà cũng là người chăm sóc Monet trong suốt thời gian danh họa bị bệnh tật đến lúc qua đời.
Phòng ngủ của Alice
Phòng ngủ của Blanche
Phòng ngủ của Claude Monet như thể một phòng triển lãm tranh của nhiều họa sĩ đương thời mà ông ưa thích, đồng thời cũng là những người bạn thân thiết cùng ông sánh bước trong cuộc phiêu lưu Ấn tượng, từ Pierre-Auguste Renoir đến Paul Cézanne hay những người luôn cổ vũ Monet, như Paul Signac.
Phòng ngủ của Monet
Tầng một của ngôi nhà gồm những căn phòng sinh hoạt hàng ngày. Phòng khách màu xanh được treo đầy những bức tranh khắc của các danh họa Nhật Bản - trào lưu được ưa chuộng vào đầu thế kỷ XX và được Claude Monet say mê sưu tầm. Bộ sưu tập mang hơi hướng phương Đông giúp họa sĩ thả hồn mơ đến Nhật Bản, xứ sở mà ông chưa một lần đặt chân tới.
Phòng khách nhỏ màu xanh
Trên tường treo tranh Nhật Bản do Monet sưu tầm
Đi xuống vài bậc thang gỗ là một phòng khách khác đồng thời là xưởng vẽ đầu tiên của họa sĩ. Đây cũng là nơi ông đón tiếp các nhà buôn, nhà sưu tập và nhà phê bình nghệ thuật. Mặc dù ngày nay không còn tác phẩm gốc nào của họa sĩ, nhưng bản sao 59 tác phẩm của Monet được treo đúng vị trí như khi ông còn sống. Sau khi phân tích nhiều bức ảnh chụp từ 1915 đến 1920 và nghiên cứu tỉ mỉ lịch sử những tác phẩm của họa sĩ, các chuyên gia đã xác định được một cách chắc chắn những bức họa nào từng được trưng bày tại Giverny vào năm 1920.
Xưởng vẽ của Monet
Các bản sao hiện đang được trưng bày tại đây là kết quả làm việc của Phòng tranh Troubetzkoy dựa trên những tác phẩm gốc nằm tản mát trong các bộ sưu tập trên khắp thế giới. Toàn bộ dự án sao chép tranh được hoàn thiện nhờ sự tài trợ của Versailles Foundation.
Bếp
Phòng ăn
Ngoài ra, ở tầng một của ngôi nhà còn có một căn phòng lớn chứa hương liệu có nguồn gốc từ khắp thế giới, một gian nhà bếp với cách bài trí hiện đại và được lát gạch men Rouen cùng với một phòng ăn sơn màu vàng dịu nhẹ, không xa hoa mà nhã nhặn, thể hiện khiếu thẩm mỹ của chủ nhân. Có thể thấy mỗi phòng đều có cá tính, màu sắc và nét độc đáo như của một bức tranh. Mọi chi tiết, như giấy dán tường, tranh treo tường, đồ nội thất, thậm chí cả tầm nhìn từ mỗi cửa sổ, đều được chăm chút cẩn thận. Ngôi nhà của Monet đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật mà mỗi du khách đều có thể tương tác.
Ấn tượng, Giverny
Mặc dù hiện nay các bức tranh của Claude Monet được đánh giá cao trên toàn thế giới - một số tác phẩm đã được bán đấu giá hơn 80 triệu USD - tác phẩm của ông không phải lúc nào cũng được đón nhận. Khi Monet và những họa sĩ theo trường phái Ấn tượng ra mắt các những tác phẩm của họ vào những năm 1870, họ đã gặp phải sự chỉ trích nặng nề từ các nhà phê bình bảo thủ của Pháp. Phong cảnh và tĩnh vật nhuốm màu mơ mộng trong tranh của họ tương phản rõ rệt với những chủ đề lịch sử và tôn giáo ảm đạm hơn, vốn rất được coi trọng vào thời điểm đó. Những họa sĩ theo chủ nghĩa truyền thống cũng bị sốc khi những họa sĩ theo trường phái Ấn tượng thường hoàn thành tác phẩm của họ ở ngoài trời chứ không phải bên trong các xưởng vẽ.
Quang cảnh làng Giverny (1886)
Mùa xuân ở Giverny (1899-1900)
Nhưng thời gian đã chứng minh giá trị của nghệ thuật đích thực. Vào cuối thế kỷ XIX, các họa sĩ trường phái Ấn tượng từ Mỹ đến định cư ở Giverny, mong muốn được vẽ tranh trong bầu không khí gần gũi hơn với bậc thầy. Bây giờ vẫn như vậy. Giverny không chỉ thu hút khoảng 600.000 khách tham quan từ khắp nơi trên thế giới về đây mỗi mùa hoa nở, mà còn là nơi hội tụ những họa sĩ, và cả những người mơ thành họa sĩ. Trong làng, trừ những quán ăn, nhà hàng ra thì nơi đâu cũng là phòng trưng bày, triển lãm và xưởng vẽ.
Bảo tàng Ấn tượng Giverny
Hôtel Baudy, nơi hội tụ của các họa sĩ
Vườn hoa của Hôtel Baudy
Xưởng vẽ ở Hôtel Baudy
Mộ của Monet
Những ngôi nhà ở Giverny mang kiến trúc đặc trưng
Trên đường phố đâu đâu cũng là tranh
Giverny luôn tấp nập du khách đến thăm nhà Monet
Trong bầu không khí êm đềm, tôi dạo bước trên những con phố nhỏ. Hai bên đường là những ngôi nhà theo kiến trúc Pháp cổ, nhà nào cũng trồng hoa, trong vườn hay bên cửa sổ. Dù đông du khách, nhưng Giverny cũng không quá ồn ào. Thời gian dường như trôi chậm hơn, êm ả và thanh bình. Có lẽ tinh thần lãng mạn của Monet, trong tranh và trong vườn, vẫn tiếp tục lan tỏa ở Giverny cho đến tận ngày nay?
Thông tin thêm
Địa chỉ: Số 84 đường Claude Monet, làng Giverny.
Giá vé: 11,5 EUR/người lớn, có giảm giá cho trẻ em, sinh viên, người khuyết tật. Nên mua vé online trước để không phải xếp hàng. Nếu bạn có ý định đi thăm cả Bảo tàng Ấn tượng Giverny thì nên đến đây mua vé trước, tại đây có bán vé tích hợp tham quan cả bảo tàng và nhà của Monet.
Hành trình: Bạn có thế đến Giverny từ Paris bằng tàu, xe bus, ô tô hoặc du thuyền theo các tour đường sông.
Ẩm thực: Ở Giverny có nhiều nhà hàng với đa dạng các món ăn từ pizza, bánh crêpe, hải sản cho đến đồ ăn truyền thống của Pháp.
Lưu trú: Phần lớn du khách chỉ đến Giverny tham quan trong ngày, nhưng nếu muốn ở lại thì Giverny cung cấp nhiều lựa chọn lưu trú cho bạn, từ các khách sạn 2, 3, 4 sao, các trang trại, cối xay gió, trang viên và lâu đài, cho đến những ngôi nhà tranh nho nhỏ dành cho các họa sĩ muốn ở lại đây một thời gian để học hỏi tinh thần của Monet.
Có thể nói Montmartre là không gian mang lại nhiều cảm hứng nghệ thuật nhất Paris. Còn được gọi là “trái tim của thành phố”, Montmartre không chỉ là ngọn đồi nổi tiếng nhất ở Paris, nơi mọi người có thể tận hưởng khung cảnh lãng mạn và tuyệt đẹp của thành phố, mà còn là một địa điểm lịch sử, nơi ra đời của vô số tác phẩm nghệ thuật qua nhiều thế kỷ.
Đồi Montmartre (Vincent van Gogh, 1887)
Trong suốt thời kỳ Belle Époque, khoảng thời gian kéo dài vài thập kỷ cuối của thế kỷ XIX cho đến Thế chiến thứ nhất, Montmartre là một khu vực có các căn hộ giá cả hợp lý và bầu không khí dễ chịu, thuận lợi cho việc sáng tạo nghệ thuật. Nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc tụ họp, tiệc tùng hay đơn thuần là trò chuyện của giới nghệ sĩ và triết gia.
Pablo Picasso trong studio của mình ở Le Bateu-Lavoir, 1900
Nhiều họa sĩ nổi tiếng bậc nhất như Edgar Degas, Paul Gauguin, Théophile Steinlen, Henri Matisse và George Braque đã từng tụ tập tại khu nhà Le Bateau-Lavoir. Hộp đêm cabaret Le Chat Noir hay Lapin Agile cũng là nơi các nghệ sĩ như Pablo Picasso, Amedeo Modigliani, Maurice Utrillo và nhà thơ Guillaume Apollinaire thường lui tới. Quán Moulin de la Galette ở Đại lộ Montmartre đã là nguồn cảm hứng vô tận của rất nhiều họa sĩ danh tiếng như Pierre-August Renoir, Vincent Van Gogh, Henri de Toulouse-Lautrec... Ngoài ra còn có hai nhóm họa sĩ lớn khác ở Montmartre là Les Nabis, những người theo trường phái Hậu Ấn tượng, cũng như Les Incohérents, những người tiên phong theo trường phái avant-garde.
Khu phố Montmartre hiện nay vẫn tập trung nhiều nhà hàng, quán cà phê, phòng tranh, cửa hàng đồ lưu niệm... Trên quảng trường Terre, có rất nhiều các họa sĩ vẽ chân dung và tranh biếm họa cho du khách. Cạnh quảng trường còn có Không gian Dalí, trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Salvador Dalí. Năm 1900 một thang máy đưa du khách từ dưới chân lên đỉnh đồi được lắp đặt làm việc di chuyển được nhanh chóng hơn. Một số địa điểm nổi tiếng như quán Moulin Rouge hay nghĩa trang Montmartre cũng nằm không xa nhà thờ Sacré-Cœur.
La Goulue đến Moulin Rouge, Henri de Toulouse-Lautrec, 1891-92
Từ những viên đá trên những con đường nhỏ quanh co, những quán cà phê vỉa hè... bất cứ đâu cũng lưu giữ lịch sử và ký ức của các họa sĩ, nhà thơ, nhà văn... Montmartre là thế giới riêng của họ ở Paris, đầy quyến rũ, một ngôi làng vẫn giữ được nét riêng cho đến tận bây giờ.
Khu phố Montmartre hiện nay vẫn tập trung nhiều nhà hàng, quán cà phê, phòng tranh, cửa hàng đồ lưu niệm... Trên quảng trường Terre, có rất nhiều các họa sĩ vẽ chân dung và tranh biếm họa cho du khách. Cạnh quảng trường còn có Không gian Dalí, trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Salvador Dalí. Năm 1900 một thang máy đưa du khách từ dưới chân lên đỉnh đồi được lắp đặt làm việc di chuyển được nhanh chóng hơn. Một số địa điểm nổi tiếng như quán Moulin Rouge hay nghĩa trang Montmartre cũng nằm không xa nhà thờ Sacré-Cœur.
Hiện nay, Bảo tàng Montmartre nằm trên đường Cortot, đã từng là nhà của danh họa Pierre-Auguste Renoir.
Khu vườn ở đườn Cortot, Monmartre (Pierre Auguste Renoir, 1876)
Những họa sĩ nước ngoài như Camille Pissarro và Pablo Picasso cũng mê mẩn khu vực thời thượng, lạ lùng này. Sau này Picasso đã vẽ một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của mình ở đó - Những cô nàng ở quận Avignon.
Những cô nàng ở quận Avignon (Pablo Picasso, 1907)
Đại lộ Montmartre về đêm (Camille Pissarro, 1897)
Montmartre vẫn thế, với những con đường nhỏ hẹp, ngọn đồi cao, những bậc thang dốc, cùng những nét thơ mộng mà không nơi nào khác có được đã là nguồn cảm hứng vô tận cho những người có tâm hồn nghệ sĩ.
Paris, một buổi chiều mưa phùn trên đồi. Người nghệ sĩ da đen ngồi trên cầu thang phía trước cửa thánh đường Sacré-Cœur đang ôm cây đàn ghi-ta và chậm rãi đàn lên bản Đời lãng tử – La Bohème. Paris dù ảm đạm trong mưa vẫn hiện lên thật đẹp từ trên đỉnh đổi Montmartre. Là ly cà phê nóng hổi cùng Ernest Hemmingway, Hội hè miên man. Và rồi Paris tan đi, thật đẹp.
La bohème là bài hát về một họa sĩ nhớ lại thời trai trẻ của mình ở Montmartre, những năm mà chàng nghèo đói nhưng rất hạnh phúc. Nhạc sĩ, ca sĩ Charles Aznavour thường nói rằng bài hát này như một lời giã biệt cho những ngày cuối của một thời Montmartre lãng tử.
Thời tiết mùa thu thật thất thường. Có những ngày trời xanh trong vắt như pha lê, nắng ửng vàng lấp lánh. Có những ngày khác mây sà xuống thấp, sương xám lãng đãng quanh những cành cây bắt đầu rụng lá. Mùa thu vui hay buồn, cảnh vật tươi tắn hay ảm đạm, dường như đều là phản chiếu tâm trạng của con người.
John Everett Millais đã ghi lại những cảm xúc độc đáo của mùa thu trong hai bức tranh: Lá thu (1855) và Tháng 10 giá lạnh (1870). Cả hai bức tranh đều được vẽ ở Perth, Scotland, nơi Millais sống. Trong Lá thu, bốn thiếu nữ đang gom lá, chất thành một đống và đốt lửa trại. Những cụm khói màu xám bắt đầu bốc lên. Khu vườn phía sau tối tăm với những cây cao mảnh khảnh, đây đó vài đám mây vương như tơ xanh trên nền trời ửng màu vàng cam rực rỡ. Mặt trời lặn khuất bóng trên gương mặt các thiếu nữ. Má họ ửng hồng như cũng nhuốm màu lá đỏ. Người xem như cảm nhận được tiếng những chiếc lá xào xạc giòn tan, làn khói ấm tỏa ra trong buổi chiều tà se lạnh. Millais vẽ nhiều loại lá, đủ hình dạng và màu sắc, rơi rụng, được xếp thành từng lớp, như báo hiệu thời khắc giao mùa, lại như gợi lên những suy nghĩ về tuổi thanh xuân, rực rỡ trong thoáng chốc rồi nhanh chóng tàn lụi theo dòng chảy bất biến của thời gian.
Tháng 10 giá lạnh lại gợi lên cảm nhận của người xem về cả thời tiết lẫn tâm trạng, được truyền tải trong phong cảnh mùa thu phương Bắc. Một bầu trời điểm xuyết vài dải mây nhạt nhòa soi bóng xuống mặt sông Tuy phẳng lặng. Từ trên bờ sông, mặt nước chỉ là một dải ánh sáng dẫn thẳng đến ngọn đồi xanh mờ ảo phía xa. Một doi đất nhỏ ở giữa sông với những hàng cây hun hút, đám lau sậy ven bờ ken dày như một tấm thảm vàng, tầng tầng lớp lớp đều như cô lập người xem ở bên ngoài bức tranh, bên phía nỗi cô đơn, lạnh lẽo và u ám.
Nhưng ẩn khuất trong Tháng 10 giá lạnh vẫn có một vẻ đẹp tĩnh lặng, trong những đám mây sáng ửng màu ngọc trai dịu dàng, trong những cánh chim xa bay đầy tự do, nổi bật trên phông nền rộng lớn, hoang sơ của những đám lau sậy vàng rực ven mặt nước. Trong nỗi buồn của mùa thu, vẫn có hy vọng.
Dù buồn hay vui, màu sắc của mùa thu thường trầm và ấm: vàng, cam, đỏ, nâu. Như trong những bức tranh vẽ phong cảnh mùa thu tại Alyscamps, một nghĩa địa La Mã cổ đại ở Arles, Pháp, van Gogh hào phóng tuôn màu vàng rực rỡ trên hai hàng cây dương, tương phản mạnh mẽ với những dãy bia mộ đá. Gauguin đi cùng ông đến Alyscamps ngày hôm đó và đã chọn đưa vào trong tranh của mình một góc nhìn khác về nơi này, một con đường rợp bóng cây đầy lãng mạn lưu dấu chân những giai nhân. Trong những ngày cuối tháng 10 năm 1988, hai họa sĩ đã miệt mài vẽ sáu bức tranh ở Alyscamps, cho đến khi một cơn mưa kéo đến mang theo hơi lạnh chấm dứt mùa thu.
Các họa sĩ dường như chưa bao giờ tiếc công dát vàng lên những bức tranh về mùa thu, từ Childe Hassam, Gustav Klimt cho đến Henri Rousseau, Pierre Bonnard và Egon Schiele. Màu vàng của nắng trời, lá khô, hoa cúc và cánh đồng lúa chín... hay là màu vàng bất tận của cánh rừng bạch dương trong tranh của Levitan đã khiến bao người thương nhớ nước Nga. Dòng sông uốn lượn men theo vàm cỏ thoai thoải nối với rừng cây, gợi lên cảm giác bâng khuâng vô định. Bầu trời xanh trong veo với những tầng mây lơ lửng bay theo làn gió nhẹ và những vạt nắng yếu ớt trải dài, tạo nên sự huyền ảo lung linh của thời khắc giao mùa, tươi sáng nhưng vẫn ẩn khuất nỗi buồn man mác.
Với độ chính xác màu đáng kinh ngạc, Công viên Hyde ở London, Anh trông đẹp hơn bao giờ hết trong tranh của Camille Pissaro, khi vẻ đẹp của thiên nhiên được phô bày một cách trọn vẹn mà không hề trần tục. Họa sĩ người Anh Joseph Mallord William cũng đã bộc lộ rõ tài năng tái hiện sự kỳ diệu của thiên nhiên bằng màu nước và sơn dầu, đã giúp nâng tầm thể loại tranh phong cảnh lên đúng vị trí của nó, như khung cảnh mùa thu ngoạn mục trong Suối nguồn lười biếng. Mùa thu trong tranh của Jean-Francois Millet thì nhuốm màu trầm hơn, nhưng không u buồn mà trái lại, thấm đẫm phong vị thanh bình êm ả của chốn đồng quê thôn dã sau mùa gặt.
Nhưng mùa thu cũng là mùa của những vấn vương, thương nhớ và hoài niệm. Trong những cơn mưa chợt đến, chợt đi, cảnh vật chuyển màu héo hắt, dễ khiến con người cảm thấy buồn vu vơ, và có gì đó như là cô độc. Mùa thu trong tranh Wassily Kandinsky sao mà lạnh lẽo đến thế, tán lá đỏ kia có sưởi ấm lòng người được chút nào không?
Còn Edward Hopper lại níu giữ khoảnh khắc mùa thu tàn phai ở Cape Cod, với con đường hoang vắng như được quan sát cảnh từ cửa sổ của một chiếc xe đi ngang qua, khắp đất trời như chuyển màu xám tĩnh lặng để nhường chỗ cho đông về.
Những bức tranh mùa thu của Paul Klee lại trừu tượng hơn và bảng màu cũng đa dạng hơn. Nhìn qua thì có vẻ đơn giản, trẻ con và ngây thơ, tranh của ông đã sử dụng nhiều phương pháp như màu nước, mực, dầu, phấn màu, kết hợp chúng với nhau, phức tạp và đa dạng cả về kỹ thuật và màu sắc, từ đơn sắc đến đa sắc.
Nói về những bức tranh phong cảnh đẹp nhất của mùa thu thì không thể bỏ qua Claude Monet và những tác phẩm của ông về vùng nông thôn Pháp. Cách sử dụng màu sắc và những nét bút vẽ mềm mại của ông gần như hoàn hảo. Điều đó thể hiện trong những bức tranh về mùa thu ở Argenteuil hay Con đường trên đảo Saint Martin.
Claude Monet vẽ Hiệu ứng mùa thu ở Argenteuil vào cuối năm 1873, thời điểm mà phong trào Ấn tượng bắt đầu nở rộ tại Paris. Khi ấy, Argenteuil là một trung tâm công nghiệp đang phát triển ở ngoại ô Paris, đồng thời là một đề tài xuất hiện thường xuyên trong tranh của nhiều họa sĩ Ấn tượng vì thị trấn nhỏ này đóng vai trò như một khu nghỉ dưỡng cuối tuần cho giới thị dân Paris. Bức tranh mang màu sắc rực rỡ của một ngày thu đầy nắng lấp loáng trên mặt nước khi cây lá và bầu trời phản chiếu xuống dòng sông Seine. Sự tương phản nổi bật giữa những tán lá vàng và làn nước trong xanh có thể khiến người xem liên tưởng đến những bức tranh khắc gỗ của Nhật Bản.
Với hơn 30.000 tác phẩm, nhưng Katsushika Hokusai được biết đến nhiều nhất với tư cách là tác giả của loạt tranh khắc gỗ 36 cảnh núi Phú Sĩ, trong đó Sóng lừng ở Kanagawa đã trở thành biểu tượng của Nhật Bản. Hokusai còn có một loạt tranh nổi tiếng khác được sử dụng làm minh họa cho cuốn sách Hiaku-nin-isshiu (Những bài ca của một trăm nhà thơ). Bài thơ đầu tiên là Hoàng đế Tenchi, kể về việc Hoàng đế đã trú mưa trong một túp lều bên đường trong khi xem những người thợ gặt làm việc. Trong bức tranh minh họa, vài lữ khách đi ngang qua một con đường hẹp nơi những người nông dân đang đang gánh lúa về. Phía xa xa là vài túp lều đơn sơ ẩn giữa những tán cây, đằng sau là những ngọn đồi thấp thoáng trong màn sương. Ở giữa bức tranh, ba ngọn cây cao vút, mảnh mai nổi bật trên nền trời hoàng hôn. Nét bút của Hokusai uyển chuyển và tự do, dù bức tranh sử dụng màu sắc trầm buồn, nhưng khúc chiết và lắng đọng tinh thần hội họa Nhật Bản.
Jasper Francis Cropsey thường được gọi là “họa sĩ của mùa thu” với hàng chục bức tranh phong cảnh mùa thu rực rỡ, phần lớn ở vùng Đông Bắc Mỹ như New York và New Jersey. Phong cảnh nước Mỹ hiện lên trong tranh của Cropsey thường rộng lớn, khoáng đạt mà yên bình, ấm áp với tông màu vàng, cam và đỏ lộng lẫy. Khi Nữ hoàng Victoria đến xem triển lãm của Cropsey ở London, bà cho rằng những bức tranh không hoàn toàn chân thực và họa sĩ đã phóng đại về màu sắc mãnh liệt của những tán lá thu ở quê nhà. Cropsey đã cho gửi những chiếc lá vàng, lá đỏ từ Mỹ sang Anh để chứng tỏ cho Nữ hoàng và cả thế giới thấy vẻ đẹp diệu kỳ của mùa thu Bắc Mỹ trong tranh của ông là hoàn toàn chân thực. Đây có lẽ là trường hợp đầu tiên trong lịch sử mà một nghệ sĩ phải chứng minh rằng mình “không dùng filter”!
Bao năm qua, mùa thu dịu dàng đã là nàng thơ của bao họa sĩ tài danh trên khắp thế giới, với một chút buồn man mác, của những con đường phủ lá cây khô, những cơn gió heo may cuộn dài trên phố, những vạt nắng hanh hao cuối cùng còn sót lại trước khi tiễn hè đi. Người họa sĩ dường như cũng nhạy cảm hơn khi thu về, chỉ cần một chiếc lá rơi xào xạc, một giọt nắng rơi bên thềm cũng đủ để họ cầm cọ lên và tâm sự với mùa thu.
Julie & Julia kể về cuộc đời của hai người phụ nữ ở hai thế hệ khác nhau, nhưng đều trên con đường khẳng định bản thân, tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc đích thực. Cuối cùng, lời giải đáp dành cho cả hai đều nằm ở tình yêu với các món ăn Pháp.
JULIA, NGƯỜI PHỤ NỮ ĐAM MÊ ẨM THỰC PHÁP
Julia (Meryl Streep)
Bước ngoặt cuộc đời quan trọng của Julia chính xác là từ năm 1947, khi Paul, chồng bà nhận được lệnh thuyên chuyển sang làm việc tại Paris. Julia đã theo chồng sang nước ngoài. Việc đầu tiên khi vợ chồng Julia và Paul đặt chân tới Pháp chính là tìm một quán ăn bán đồ đặc sản ngon. Món ăn đầu tiên mà Julia thưởng thức tại đây chính là món cá bơn sốt bơ chanh. Julia hoàn toàn bị ẩm thực Pháp chinh phục từ giây phút ngửi thấy mùi bơ béo ngậy, và cách người bồi bàn khéo léo dùng thìa, nĩa lóc xương và cho miếng phi lê cá hoàn hảo lên đĩa.
Với tính cách sôi nổi, năng động của mình, bà mau chóng trở nên buồn chán với công việc nội trợ hằng ngày. Nấu nướng đến với Julia như một hình thức giải trí và dần dần phát triển thành đam mê cả đời. Khi nhắc lại bữa ăn đầu tiên tại nhà hàng Rounen ở Paris, Julia đã khẳng định đó là “sự khai mở cho tâm hồn và tinh thần của tôi”.
Hành trình học nấu ăn của Julia được lãng mạn hóa trên phông nền kiến trúc Pháp cổ điển và những khu chợ ngoài trời tràn ngập màu sắc
Bắt nguồn từ niềm mê say những món ăn hảo hạng tại Paris mà hai vợ chồng được thưởng thức, Julia Child quyết định mình phải trở thành một đầu bếp chuyên nghiệp và được chồng mình hết mực ủng hộ. Bà mạnh dạn tham gia lớp nấu ăn nổi tiếng Le Cordon Bleu với tư cách một “tay mơ” và hết mình cải thiện kĩ năng nấu nướng để không lâu sau đó, bà có cơ hội được học nghề riêng với những bếp trưởng nổi tiếng như Mac Bugnard, dần dần tiến gần đến trình độ của một đầu bếp ẩm thực hạng sang theo tiêu chuẩn Pháp.
Món Coq au Vin
Chế biến thịt gia cầm có thể xem là sở trường hàng đầu của Julia với thao tác lóc da và xương điệu nghệ cùng thành quả là những miếng thịt ức bóng bẩy, đầy đặn không tì vết. Bà rất nổi tiếng với biến thể Coq au Vin, một sự kết hợp độc đáo và ngoạn mục giữa ẩm thực Pháp và thói quen nấu nướng của người Mĩ, khi Julia sử dụng mỡ từ thịt xông khói để nướng vịt, tạo ra hương vị giòn rụm tuyệt ngon cho lớp da bên ngoài cùng màu nâu óng ánh vô cùng hấp dẫn.
Salad Niçoise
Các món salad cũng góp phần quan trọng làm nên phong cách ẩm thực độc đáo với tính chất hòa trộn đặc trưng đa quốc gia ở Julia. Salad Niçoise là sự thử nghiệm kì lạ nhưng thành công khi Julia kết hợp hàng chục nguyên liệu lại với nhau, và chính thành phần “đồ sộ” đã khiến salad Niçoise đôi khi được xem như món chính thay vì khai vị. Ở một đĩa Niçoise, ta có thể bắt gặp từ cà chua, măng tây, bắp cải, khoai tây cho đến hải sản, trứng và thịt các loại. Tuy nhiên món ăn này lại được nhiều người yêu thích vì lợi ích sức khỏe và sự cân bằng dinh dưỡng của nó.
Với món tráng miệng, kem phúc bồn tử kiểu Bavaria đã trở thành một dấu ấn của Julia. Còn gì tuyệt vời hơn khi kết hợp kem sữa béo thơm vị dâu rừng, ăn cùng phúc bồn tử tươi chua chua ngọt ngọt. Một sự bùng nổ của vị giác!
Kem phúc bồn tử kiểu Bavaria theo công thức của Julia
Julia dần dần nhận ra niềm đam mê của mình và tự mình tìm tòi, sáng tạo những công thức nấu ăn đặc biệt, sau đó xuất bản thành một cuốn sách. Bà cũng có một show dạy chương trình nấu ăn và truyền cảm hứng đến những người có cùng sở thích trên toàn thế giới.
Sự nghiệp ẩm thực của Julia không chỉ dừng lại ở vị trí một đầu bếp tiếng tăm, mà nó còn phát triển hơn nữa khi bà xuất bản cuốn sách dạy nấu ăn hóm hỉnh, đơn giản và gần gũi Mastering the Art of French Cooking, và sau đó là những chương trình hướng dẫn nấu ăn trên truyền hình. Hình ảnh bà Julia cao lớn với đôi tay dài trông có vẻ vụng về, miệng liến thoắng trò chuyện vui đùa trong khi nấu ăn đã tạo nên niềm yêu thích và đồng cảm sâu sắc với những người đầu bếp nghiệp dư, những bà nội trợ trên khắp thế giới, biến Julia thành người thầy dễ mến và “đại chúng” nhất của ẩm thực Pháp cao cấp, người “đưa ẩm thực Pháp tới bàn ăn mọi gia đình Mỹ”.
JULIE, MỘT CÔ GÁI NEW YORK YÊU NẤU ĂN
Julie (Amy Adams)
Cuộc đời của Julia đã truyền cảm hứng cho cô gái trẻ Julie sống tại New York bốn thập niên sau đó. Năm 2002, Julie cùng chồng chuyển tới nơi ở mới. Cô là nhân viên chăm sóc khách hàng, mỗi ngày phải đối diện với hàng tá cuộc gọi phàn nàn. Chưa kể những cuộc họp mặt với những cô bạn thành đạt khiến cô trở nên mệt mỏi và áp lực. Chính việc nấu ăn vào mỗi buổi tối là sự “giải thoát”, giúp cô nhanh chóng gạt đi những bộn bề cuộc sống. Cô thích đồ ăn Pháp và rất yêu mến Julia. Cô xem đi xem lại các video của Julia và thích thú với cuốn sách dạy nấu ăn của bà. Cho đến một ngày, cô chợt nảy ra ý tưởng viết một trang blog với tiêu đề thử thách: 365 ngày, hoàn thành 524 công thức nấu ăn của Julia. 524 công thức bao gồm những món ăn mặn trong bữa chính và cả những món tráng miệng ngọt ngào.
Món trứng chần theo kiểu Julia
Julie bắt đầu thử thách từ những công thức đơn giản như trứng chần. Tưởng chừng là một món ăn dễ làm, nhưng một người đầu bếp khéo tay như Julie cũng làm hỏng không ít lần. Có thể thấy trong ẩm thực Pháp, những món ăn tưởng chừng đơn giản cũng phải thực hiện thật tỉ mỉ và có yêu cầu khắt khe. Món trứng chần hoàn hảo có phần lòng đỏ nằm trọn bên trong lòng trắng, rắc lên đó một chút muối và tiêu. Khi dùng dao nĩa tách nhẹ lòng trắng, phần lòng đỏ sẽ tuôn trào như pho mát chảy.
Món ức gà sốt nấm
Julie cũng nhận ra tầm quan trọng của bơ trong những món ăn Pháp. Cô đã viết một đoạn blog hết sức dễ thương như thế này: “Cứ mỗi lần bạn nếm một thứ gì đó mà ngon quá sức tưởng tượng, bạn sẽ tự hỏi có gì trong món này vậy? Câu trả lời luôn là bơ. Nếu như có một thiên thạch lao về trái đất và chúng ta chỉ còn sống được ba mươi ngày, tôi sẽ dành những ngày đó để ăn bơ.” Điều đó được chứng minh qua sự xuất hiện của thành phần này trong hầu hết các món ăn của cô, ví dụ như món bruchesta ngon tuyệt làm từ bánh mì và salad cà chua. Salad làm từ cà chua bi cắt nhỏ trộn cùng gia vị, rau húng và dầu ô liu. Phần bánh mì cắt lát vừa ăn phết dầu tỏi hai mặt và chiên hoặc nướng cùng bơ.
Món bruchesta cà chua ngon và dễ làm
Một món ăn đặc trưng của Pháp gắn liền với tên tuổi Julia đó là món bò hầm Bourguignon. Julia đã từng mô tả về món ăn này là “một trong những món thịt bò ngon nhất mà người ta có thể nấu được”. Món bò hầm này chính là tổng hòa của cả một kho tàng hương vị với một miếng thịt hầm nhừ trong tỏi, hành tây, cà rốt, nấm rơm và rượu vang đỏ thơm lừng chếnh choáng say mê. Đây cũng là món ăn mà Julie cho rằng khó nhất, mất công nhất và cô đã để dành nó đến lúc cuối cùng. Cô đã làm cháy nó, và phải nấu lại lần thứ hai, lần này thì cô mới thành công.
Bò hầm Bourguignon
Trong quá trình thực hiện thử thách, Julie đã gặp nhiều thất bại như vậy. Nhưng cô vẫn dùng chính sự đam mê và sự ủng hộ hết mực của người chồng làm động lực hoàn thành thử thách. Qua trang blog của mình, Julie lại tiếp tục cuộc hành trình truyền cảm hứng cho những người phụ nữ yêu thích nấu ăn giống như cách Julia đã tác động tới cô.
Julie cũng đạt được thành công trong hành trình nấu ăn theo kiểu Julia
Không chỉ là câu chuyện về quá trình đi tìm hạnh phúc của hai người phụ nữ, Julie & Julia còn hấp dẫn bởi những thử thách, khó khăn và vẻ đẹp của những món ăn giữa không gian ẩm thực Pháp với cảnh quay lãng mạn, màu sắc tươi sáng và những câu thoại hài hước. Cuộc đời có thật của hai nhân vật chính trong phim đã giúp khán giả hiểu thêm về tinh thần ẩm thực Pháp đích thực.
Paris quả không hổ danh là kinh đô ánh sáng khi nhiều lần xuất hiện ấn tượng qua các thước phim nổi tiếng thế giới.
Sabrina (1954)
Một bộ phim đáng xem với sự diễn xuất của diễn viên Audrey Hepburn. Nội dung phim kể về cô gái tên là Sabrina - cô con gái của ông tài xế trong gia đình giàu có Larrabee đã thầm thương trộm nhớ cậu chủ David từ lâu, nhưng vốn là một kẻ hư hỏng, háo sắc, cậu ta hoàn toàn phớt lờ cô. Sabrina theo học nghề đầu bếp tại Paris với hi vọng rằng cô sẽ mau chóng quên anh. Một vài năm sau khi trở về, Sabrina đã trở thành một phụ nữ vô cùng xinh đẹp và quyến rũ. Ngay lập tức, David lao theo cô.
Linus - anh trai của David lo sợ mối quan hệ này có thể phá vỡ cuộc đính ước giữa David và con gái của một gia đình giàu có, và thế là bao nhiêu hợp đồng trị giá nhiều triệu dollar với công ty đó cũng đi tong. Bởi vậy nên Linus cố gắng đưa Sabrina tránh xa khỏi em trai mình bằng cách quyến rũ cô và để rồi sau đó cũng rơi vào lưới tình do chính mình giăng ra...
À bout de souffle (1960)
Là đại diện xuất sắc cho phong cách làm phim Làn sóng mới – La Nouvelle Vague, À bout de souffle (Nghẹt thở) – tác phẩm đầu tay của đạo diễn huyền thoại Jean-Luc Godard được đánh giá là một trong 100 bộ phim đáng xem nhất mọi thời đại. Bộ phim xoay quanh nhân vật Michel Poiccard - một tên trộm vặt đã lỡ tay giết chết một viên cảnh sát và rơi vào lưới tình của cô sinh viên người Mỹ.
Không chỉ tái hiện mọi góc nhìn cuộc sống, Breathless còn đưa bạn trở về những năm1960 để chiêm ngưỡng một Paris cổ điển và tao nhã.
Les Amants du Pont-Neuf (1991)
Les Amants du Pont-Neuf (Đôi tình nhân trên cầu Pont-Neuf) kể về Alex, một người biểu diễn đường phố nghiện rượu và thuốc an thần đã phải lòng nàng họa sĩ Michèle đang mang căn bệnh khiến thị giác của cô càng ngày càng giảm sút. Một tình yêu say đắm giữa hai kẻ lang thang tại cây cầu cổ nhất Paris, cầu Pont-Neuf, đã diễn ra dầy sự lãng mạn đến nỗi bạn tự hỏi liệu có thể tồn tại một tình yêu như thế ở một nơi nào khác cách xa sông Seine? Người xem còn có dịp tìm hiểu đôi chút về những ga tàu điện ngầm ở Paris và viện bảo tàng Louvre, trước khi biết cặp đôi nhân vật chính liệu có thể ở mãi bên nhau?
Một trong những trường đoạn để lại những ấn tượng khó quên cho người xem là khi Alex và Michèle nhảy múa trên cây cầu giữa không gian rực sáng pháo hoa ngoạn mục. Cả bầu trời và dòng sông Seine bừng lên đẹp không thể tả. Cú máy dài gói trọn khoảnh khắc quý báu họ dành cho nhau, một là lúc hai người nhảy múa như điên dại và một là lúc họ “du ngoạn” trên sông Seine bằng cano lướt ván vừa đánh cắp được. Nó khiến người xem cảm nhận có vẻ cái hạnh phúc và niềm vui ấy sẽ kéo dài mãi, không bao giờ kết thúc, không ai muốn nó dừng lại. Âm nhạc mạnh mẽ thôi thúc cuồng nhiệt và gương mặt hai người cũng bừng sáng trong nhau.
Bên dòng sông Seine, giữa Paris - thành phố của tình yêu, người ta không chỉ yêu, mà người ta còn yêu với những niềm đau tan vỡ, những đắm say, những điên rồ, những đuổi bắt, những tiếng cười và những giọt nước mắt đều ẩn chứa niềm đam mê.
Amélie (2001)
Amélie lấy bối cảnh ở Paris, thành phố ấm áp, đẹp mơ màng với ba màu chủ đạo là xanh lá, vàng cam và đỏ chín. Đó là một Paris của những quầy bán báo xinh xẻo, những cửa hàng rau quả tươi rói, những con mèo thích nghe chuyện cổ tích và những người dân hiền lành đáng yêu. Là nơi phép màu ẩn trong từng góc phố và tình yêu ngập trong bầu khí quyển. Là nơi kể câu chuyện về Amélie Poulain, một cô gái làm bồi bàn tại một quán café nhỏ, trong sáng, tốt bụng, với những kế hoạch tuy không lớn lao nhưng lại đem đến những thay đổi to lớn cho mọi người sống quanh cô.
Ngay trong phút đầu tiên, Amélie mở ra hình ảnh con đường Saint Vincent lát đá tưới ánh sáng vàng cam tuyệt đẹp của Paris như cổ tích khiến người ta hình dung ngay lập tức một câu chuyện đẹp với sự chào đời có vẻ đầy ngẫu hứng của Amélie, khi mà những điều tưởng như không ai để ý vẫn đang diễn ra hàng ngày… Đó là tốc độ của một con nhặng đang bay hay một nhà hàng với những chiếc ly đang nhảy múa trên bàn vì gió. Và sau đó là những cửa hàng phô mai, giá cả thịt lợn, cái biển bị sứt một miếng, trẻ em chơi với chim bồ câu, âm thanh phố xá... Theo vòng xoay của câu chuyện, người xem còn được dạo quanh thành phố Paris xinh đẹp, tới những địa danh nổi tiếng mà ai cũng biết và cả những nơi mới chỉ nghe tên lần đầu, những tác phẩm của danh họa trường phái biểu hiện Pierre-Auguste Renoir, hay những khoảnh khắc nên thơ ở khu phố Montmartre.
Amélie thường chơi trò liệng đá trên cây cầu sắt bắc qua kênh Saint-Martin. Con kênh này được Napoléon Bonaparte cho xây dựng năm 1802, nhằm tạo ra nguồn nước ngọt nhân tạo phục vụ dân số ngày càng tăng của Paris.
Với người dân nơi đây, con kênh còn là địa điểm lý tưởng để đi dạo hoặc đạp xe thư giãn vào những ngày cuối tuần.
Amélie sống ở khu ngoại ô Montmartre nên các cảnh quay chủ yếu được thực hiện ở đây. Khu Montmartre nằm trên một quả đồi lớn, tập trung nhiều nhà hàng, quán cafe, quán bar, phòng tranh... Thả bộ dọc theo các con phố nhỏ, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những tiệm tạp hóa bày bán nhiều loại trái cây tươi ngon, thực phẩm, đồ lưu niệm... Trong số đó có cửa hàng Marche de la Butte là nơi Amélie quay một trong những phân đoạn cảm động nhất trong phim.
Amélie dẫn cụ già mù đi dọc theo con phố, hào hứng mô tả cho ông tất cả cuộc sống náo nức xung quanh: “Ôi, những cây kem mới thơm ngon làm sao! Những chiếc kẹo que được trưng bày sau cửa kính. Kìa, người bán hoa quả đang xẻ dưa cho khách nếm, ông có ngửi thấy không?”
Một trong những ga tàu điện ngầm “ăn ảnh” nhất Paris là gare Abbesses. Lối vào của ga có mái che hình kính bầu dục, do kiến trúc sư nổi tiếng Hector Guimard thiết kế. Để xuống tới nhà ga ở độ sâu 36m, bạn có thể đi thang máy, hoặc chọn cách thi vị hơn - đi bộ trên con đường gồm 200 bậc thang xoắn ốc và thưởng thức các bức tranh tường đủ mọi phong cách trải dọc đường đi.
Gare du Nord là ga xe lửa và tàu điện ngầm lớn nhất trong hệ thống Paris Metro. Cổng chính của ga được thiết kế cầu kỳ với 9 bức tượng trên mái đại diện cho 9 điểm đến quốc tế lớn nhất, bao gồm Paris ở chính giữa, hai bên là London, Berlin, Amsterdam, Brussels, Cologne, Frankfurt, Warsaw và Vienna.
Amélie thường đón tàu từ ga này để về thăm bố ở ngoại ô Paris.
Nơi Amélie làm việc là một quán cà phê ở góc đường có tên Café des 2 Moulins, hay “Quán cafe 2 cối xay gió”. Quán có tên này do nó nằm ở điểm chính giữa hai quán cùng mang tên “cối xay gió” lân cận - Moulin Rouge và Moulin de la Galette. Mái che màu đỏ, lối trang trí cổ điển từ thập niên 70 và phong cách Amélie ở mọi ngóc ngách của quán chính là nét đặc trưng khiến nơi đây thu hút được nhiều khách du lịch, đặc biệt là các fan hâm mộ Amélie.
Còn khu vui chơi dưới chân nhà thờ Sacré-Cœur chính là nơi Amélie dẫn dắt Nino đi theo các mũi tên màu xanh để tìm ra “kho báu” chính là cuốn sổ ảnh mà anh làm mất ở nhà ga cách đó ít lâu.
Thật khó có thể nói điều gì là đẹp nhất trong Amélie. Từ bối cảnh, tới âm nhạc, tới diễn xuất của diễn viên… Có lẽ, cái tuyệt vời chính là cảm giác dễ chịu suốt hai tiếng mà bộ phim mang lại và người xem hoàn toàn không khó để nhận ra rằng “không ngờ mình có thể vui từ những điều giản dị như thế”.
Moulin Rouge! (2001)
Là một trong những bộ phim hay nhất của đạo diễn Baz Luhrmann, Moulin Rouge! (Cối xay gió đỏ) được quay ở Paris khi quán Moulin Rouge đang trong thời hoàng kim, trung tâm của ca vũ và mỹ nhân.
Lấy bối cảnh Paris năm 1899, quán Moulin Rouge là nơi nhen nhóm tình yêu giữa một anh chàng nghệ sĩ nghèo Christian và cô đào xinh đẹp Satine. Ewan McGregor và Nicole Kidman đã “kể” một câu chuyện diễm lệ ca ngợi vẻ đẹp, sự chân thật, tự do của những kẻ lãng du, và trên hết vẫn là tình yêu. Tình yêu dang dở cùng những điệu nhạc, lời ca thắm tình trong phim sẽ khiến người xem phải mong mỏi một lần đến Paris.
Before Sunset (2004)
Before Sunset (Trước lúc hoàng hôn) là bộ phim thứ hai trong bộ ba Before của đạo diễn Richard Linklater. Câu chuyện vẫn xoay quanh chàng trai người Mỹ Jesse và cô gái người Pháp Céline, với những cảnh quay ghi lại khoảnh khắc hạnh phúc, bối rối của cặp tình nhân gặp lại nhau sau 9 năm dài đằng đẵng.
Đan xen những tình tiết lãng mạn trong phim, bạn sẽ nhận thấy một Paris bình yên, dịu dàng nhưng cũng rất đằm thắm qua những kỷ niệm đẹp của hai nhân vật chính bên quán cà phê nhỏ xinh, trong những khu vườn đáng yêu và cả trên những con thuyền nhỏ xuôi dòng sông Seine lãng mạn.
Paris, je t’aime (2006)
“Paris, je t’aime” có nghĩa là “Paris, tôi yêu người”. Đây là một bộ phim khá công phu khi có tới 18 đạo diễn hợp tác với nhau để vẽ lên bức tranh rực rỡ về thành phố Paris tuyệt đẹp như một huyền thoại nhằm truyền tải những thông điệp muôn màu về cuộc sống tới người xem.
Bức tranh ấy được lắp ghép từ những khung cảnh, những góc phố cực-kỳ-thơ-mộng, tháp Eiffel, sông Seine, đồi Montmartre, khải hoàn môn, phố Tàu, nghĩa trang Père-Lachaise, đại lộ Champs-Élysées, công viên, lâu đài… như thể cả thành phố như một bảo tàng nghệ thuật và kiến trúc khổng lồ, lúc nào cũng hoa lệ và đầy cổ kính.
Nhưng hơn cả, những mảng ghép của bức tranh Paris còn sống động bởi con người, những mảng đời. Bộ phim không có một cốt truyện liền mạch, mà là chắp ghép những cuộc đời bình dị xảy ra ở Paris, những cảnh đời mà ở bất cứ nơi đâu cũng có. Mỗi cuộc đời ấy, chỉ hiển hiện trên màn hình chỉ dăm mười phút, ít câu thoại, nhưng rất ám ảnh, rất nghệ thuật, rất cô đọng và không kém phần bất ngờ. Bên cạnh Paris cổ kính, còn có Paris hiện đại, đa sắc tộc và đa văn hoá mà không màng đến sự khác biệt văn hoá, giới tính, giai cấp và thậm chí ngôn ngữ.
Paris, thành phố của tình yêu, khi ở đó, những con người trong những câu chuyện hình như đã tìm được tình yêu của đời mình. Hoặc giả như họ không tìm được, thì chí ít, họ đã phải lòng với Paris, với những câu chuyện giàu cảm xúc và bay bổng như trong phim, và phải thốt lên “Paris, tôi yêu người”.
La vie en rose (2007)
Paris không chỉ quyến rũ bước chân lãng tử bằng những con phố, cảnh vật hay con người mà còn bằng những bản tình ca ngọt ngào, như La Vie en Rose. Nhưng cuộc đời của nàng ca sĩ quán rượu - chim sẻ nhỏ Édith Piaf lại chẳng hề màu hồng như bài hát của nàng.
La Vie en Rose là một bộ phim tiểu sử về Édith Piaf, cho chúng ta thấy về góc khuất Paris nửa đầu thế kỷ XX. Xuất thân là một cô bé nhà nghèo theo cha biểu diễn trên đường phố, phải sống cùng gái làng chơi trong nhà thổ, lăn lộn đủ mọi nơi dưới bùn lầy Paris những năm trước Thế chiến II, người xem sẽ hiểu vì sao Édith Piaf có giọng hát giàu cảm xúc đến vậy.
Ratatouille (2007)
Ratatouille là bộ phim hoạt hình vô cùng thành công của hãng sản xuất nổi tiếng Pixar, kể về chú chuột Remy có lòng yêu thích ẩm thực và mong muốn được đến Paris để thực hiện ước mơ trở thành đầu bếp nổi tiếng. Tuy bị gia đình ngăn cản nhưng cuối cùng Remy cũng đặt chân được đến kinh đô ánh sáng và bắt đầu cuộc phiêu lưu của mình.
Tại đây, Remy quen Linguini và cả hải đã trở thành cặp bài trùng trong việc chế biến các món ăn mới lạ, đồng thời chứng mình quan niệm của Gusteau: “Ai cũng có thể nấu ăn ngon”.
Julie & Julia (2009)
Julie & Julia kể về cuộc đời của hai người phụ nữ ở hai thế hệ khác nhau, nhưng đều trên con đường khẳng định bản thân, tìm kiếm niềm vui, hạnh phúc đích thực. Cuối cùng, lời giải đáp dành cho cả hai đều nằm ở tình yêu với các món ăn Pháp.
Năm 1947, Julia đã theo chồng đến Paris. Việc đầu tiên khi vợ chồng bà làm chính là tìm một quán ăn bán đồ đặc sản ngon. Món ăn đầu tiên mà Julia thưởng thức tại đây chính là món cá bơn sốt bơ chanh. Julia hoàn toàn bị ẩm thực Pháp chinh phục từ giây phút ngửi thấy mùi bơ béo ngậy, và cách người bồi bàn khéo léo dùng thìa, nĩa lóc xương và cho miếng phi lê cá hoàn hảo lên đĩa.
Với tính cách sôi nổi, năng động của mình, bà mau chóng trở nên buồn chán với công việc nội trợ hằng ngày. Nấu nướng đến với Julia như một hình thức giải trí và dần dần phát triển thành đam mê cả đời. Khi nhắc lại bữa ăn đầu tiên tại nhà hàng Rounen ở Paris, Julia đã khẳng định đó là “sự khai mở cho tâm hồn và tinh thần của tôi”.
Julia dần dần nhận ra niềm đam mê của mình và tự mình tìm tòi, sáng tạo những công thức nấu ăn đặc biệt, sau đó xuất bản thành một cuốn sách. Bà cũng có một show dạy chương trình nấu ăn và truyền cảm hứng đến những người có cùng sở thích trên toàn thế giới, trở thành người thầy dễ mến và “đại chúng” nhất của ẩm thực Pháp cao cấp, người “đưa ẩm thực Pháp tới bàn ăn mọi gia đình Mỹ”.
Cuộc đời của Julia đã truyền cảm hứng cho cô gái trẻ Julie sống tại New York bốn thập niên sau đó. Cô thích đồ ăn Pháp và rất yêu mến Julia. Cô xem đi xem lại các video của Julia và thích thú với cuốn sách dạy nấu ăn của bà. Cho đến một ngày, cô chợt nảy ra ý tưởng viết một trang blog với tiêu đề thử thách: 365 ngày, hoàn thành 524 công thức nấu ăn của Julia. 524 công thức bao gồm những món ăn mặn trong bữa chính và cả những món tráng miệng ngọt ngào.
Không chỉ là câu chuyện về quá trình đi tìm hạnh phúc của hai người phụ nữ, Julie & Julia còn hấp dẫn bởi những thử thách, khó khăn và vẻ đẹp của những món ăn giữa không gian ẩm thực Pháp với cảnh quay lãng mạn, màu sắc tươi sáng và những câu thoại hài hước. Cuộc đời có thật của hai nhân vật chính trong phim đã giúp khán giả hiểu thêm về tinh thần ẩm thực Pháp đích thực.
Midnight in Paris (2011)
Midight in Paris là câu chuyện về Gil, một chàng trai người Mỹ leo lên chuyến xe du hành thời gian trở về thời mà anh ta cho là "hoàng kim" - Paris trong mưa ở thập niên 1920. Khi đó, nhiều nhà văn, nghệ sĩ đã tụ hội tại đây và tận hưởng sự xa hoa, phù du, thậm chí là phù phiếm để rồi cho ra đời những tác phẩm vĩ đại. Văn học, hội họa, âm nhạc – tất cả cùng hòa chung trong bản giao hưởng làm đắm say lòng người.
Anh háo hức, tò mò như một đứa trẻ khi được trò chuyện với Hemingway, mở to mắt khi nhìn bức họa của Pablo Picasso, ngập ngừng, bối rối mỗi lần đối mặt với nàng Adriana – người tình xinh đẹp của cả Picasso lẫn Hemingway... Gil ngày ngày chỉ mong tới nửa đêm để được sống ở nơi mà mình thực sự mong muốn. Anh bỏ quên vị hôn thê xinh đẹp Inez, bỏ quên đám cưới sắp diễn ra, bỏ quên cả Paris hiện đại để tận hưởng cái không gian "hội hè miên man", hết bữa tiệc này đến bữa tiệc nọ, hết ly rượu này tới ly rượu kia. Anh không làm sao dứt ra được thứ "men say" đó và ngày càng lún sâu vào quá khứ.
Phim sử dụng tông màu vàng ấm tạo cảm giác cổ điển và đậm "chất" Pháp. Mỗi khuôn hình của Midnight in Paris đều đẹp một cách hoàn mỹ. Không đi sâu vào các công trình kiến trúc xa hoa như Nhà Thờ Đức Bà hay Tháp Eiffel, đạo diễn Woody Allen cho người xem khám phá một Paris giao thoa giữa cổ điển và hiện đại qua những con đường gạch đá, những ngõ nhỏ mơ màng trong đêm bởi ánh đèn vàng hiu hắt từ chiếc đèn đường.
Không có những cao trào đẩy tới tận cùng, câu chuyện của Midnight in Paris nhẹ nhàng, êm dịu như một bản nhạc cổ điển phát ra từ chiếc máy quay đĩa cổ. Tuy nhiên, nó vẫn mang đến sự thấm thía sâu sắc và những cảm xúc lắng đọng, gần gũi. Phim gợi người xem đi theo một không gian, một suy nghĩ rất hoài cổ nhưng vẫn rất thực tế và đầy ắp sự lạc quan, hy vọng thể hiện ở những phút cuối cùng của bộ phim.
Đôi khi, nhiều người trong chúng ta cũng muốn được leo lên chiếc xe cổ lúc nửa đêm như Gil để trở về "thời kỳ hoàng kim" với bao niềm hân hoan, háo hức. Trong nhịp sống hối hả, gấp gáp của ngày hôm nay, một cuộc dạo chơi trở về quá khứ với những ký ức hoài cổ quả thực là một giấc mộng phù du đẹp đẽ mà ai cũng mong muốn được trải nghiệm dù chỉ một lần.
Ánh mặt trời rực rỡ đã gợi lên cảm hứng gì ở các họa sĩ? Và qua những bức tranh, họ muốn đưa ra lời khuyên nào cho người xem để có thể có được một mùa hè trọn vẹn nhất?
Đi dạo
Mùa hè đến, những khu vườn nở rộ muôn hoa, những cánh đồng bắt đầu ánh lên sắc vàng rực rỡ, bầu trời xanh hơn và nắng cứ trong veo. Tất cả gợi lên một nguồn cảm hứng hoàn hảo cho những bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp mà mỗi khi nhìn vào, bạn gần như có thể ngửi thấy hương thơm của hoa cỏ mùa hè.
Trong bức tranh sơn dầu tươi sáng Mùa hè, Frank Weston Benson đã vẽ chân dung vợ con mình ngồi nghỉ trên một ngọn đồi sau một chuyến đi bộ ngắn từ nhà của họ, trang trại Wooster. Giữa cỏ khô và hoa trắng, họ ngắm cảnh Vịnh Penobscot xanh biếc xứ Maine. Bức tranh tràn đầy sức sống của mùa hè, như thôi thúc người xem bước ra khỏi nhà và chẳng cần phải đi xa, chỉ đơn giản là hãy học cách tìm thấy vẻ đẹp của cảnh vật xung quanh mình.
Claude Monet cũng là một họa sĩ dành rất nhiều thời gian để tận hưởng thiên nhiên, đặc biệt là mùa hè, khoảng thời gian cho ánh sáng đẹp nhất trong năm. Người phụ nữ che dù là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông, lấy bối cảnh ở Argenteuil, vùng ngoại ô Paris nơi gia đình ông sống từ năm 1872 đến năm 1878, vẽ cảnh vợ và con trai ông đang đi dạo mát trên đồng cỏ ngập tràn ánh nắng. Trong Đi dạo bên vách đá Pourville, ông đã tìm thấy nguồn cảm hứng trong khung cảnh tuyệt đẹp của làn nước xanh như ngọc và những vách đá Pourville phủ đầy hoa ở xứ Normandy. Còn trong Khóm hoa tròn, Monet vẽ cảnh vợ mình đi dạo trong vườn nhà với những mảng màu sắc hồn nhiên và vô tư của mùa hè nơi thôn dã.
Picnic
Mùa hè là thời điểm thích hợp để bạn thỏa sức vui chơi trong những buổi picnic, dã ngoại cùng bạn bè và gia đình. Và các họa sĩ cũng vậy! Picnic không phải là một khái niệm mới mẻ bởi nó đã là đề tài cho nhiều bức tranh từ đầu thế kỷ XIX, thường sử dụng nét vẽ rộng, bảng màu tươi sáng và sống động để thể hiện niềm vui ngây thơ, thuần khiết của mùa hè.
Bức tranh Bữa trưa trên cỏ của Manet hội tụ tất cả các yếu tố cần thiết để có được một buổi picnic thành công: bầu không khí thư giãn, phong cảnh thiên nhiên xanh tươi mát mẻ và những món ăn ngon. Cuộc dã ngoại của Manet đã không được công chúng chấp nhận vào năm 1863, do bố cục và cái liếc ngang táo bạo của người phụ nữ khỏa thân khiến người xem bối rối.
Trong tranh, một người phụ nữ dường như vừa tắm xong, đang hong khô mình bên cạnh hai người đàn ông. Quần áo của nàng được trải ra đất như một tấm khăn để ngồi, dường như nàng đã không chuẩn bị cẩn thận cho buổi dã ngoại này. Hai người đàn ông bên cạnh đang say sưa trò chuyện, không để ý đến nàng. Còn có một người phụ nữ khác ở phía sau, đang khỏa nước trong ao. Xung quanh dường như vắng lặng và màu xanh của lá cây khiến cho người xem cảm giác được thời tiết có vẻ mát mẻ. Tất cả toát lên một sự ngẫu hứng, thoải mái, tùy tiện và phóng túng của một buổi dã ngoại êm đềm chốn đồng quê, hoặc ven rừng. Nếu bạn cũng hứng thú với một chuyến picnic như vậy, thì hãy nhớ mang theo một chiếc khăn tắm.
Bơi lội
Mùa hè sẽ không thể trọn vẹn nếu như bạn bỏ qua cơ hội vẫy vùng bơi lội trong làn nước trong xanh. Bởi thế nên, một trong những địa điểm náo nhiệt và đậm chất hè nhất là những bể bơi và hồ nước. Các họa sĩ cũng đã chớp lấy thời điểm này để vẽ lại khoảnh khắc mát lành của con người giữa thiên nhiên.
Hồ Ếch (La Grenouillere) là một địa điểm vui chơi, bơi lội và đua thuyền rất nổi tiếng ở Croissy bên sông Seine, gần với Bougival, cũng là nơi Monet sống và làm việc vào năm 1869. Trong suốt những năm 1860, nơi đây đã trở thành một điểm du lịch rất thời thượng và hấp dẫn cho những người dân Paris đến để tận hưởng khung cảnh thôn dã và nhà hàng nổi trên mặt nước. Khách tham quan khá đa dạng, từ hoạ sĩ, nhà văn cho tới các nhà quý tộc. Monet và người bạn Renoir của mình thường xuyên vẽ tranh cùng nhau vào giai đoạn này, cho ra đời những tác phẩm khác nhau về cùng một bối cảnh. Những nét cọ rộng rãi, phóng túng của Monet tái tạo gần như hoàn hảo bóng nắng phản chiếu lung linh trên mặt hồ cũng như bầu không khí mát mẻ trong màu xanh của lá và của trời.
Renoir cũng đã vẽ Hồ Ếch khi làm việc cùng với Monet, và mang tới một cái nhìn cận cảnh với phần đảo hoa nhỏ hình tròn để tập trung vào con người hơn. Các nhân vật của ông nhiều hơn về cả số lượng và mang các đặc điểm cá nhân, ông cũng vẽ những người chèo thuyền và vài con thuyền buồm ở phía sau để tô điểm thêm cho phong cảnh hòn đảo nhỏ.
Một địa điểm khác nằm ở ngoại ô Paris dọc theo sông Seine là Asnieres cũng được nhiều thị dân Pháp ưa chuộng từ thế kỷ XIX. Không như Chiều Chủ nhật trên đảo Grande Jatte vẽ buổi picnic của giới quý phái, bức tranh này được Seurat mô tả một địa điểm vui chơi của tầng lớp lao động ngay ở bờ đối diện.
Tắm biển
Gió biển mang theo hơi muối mặn, cát luồn dưới những ngón chân, cảm giác nồng nàn của một bãi biển mùa hè quả thực khó cưỡng. Nhiều họa sĩ nổi tiếng đã chọn những bãi biển mùa hè làm đề tài cho mình, và chúng ta gần như có thể chắc chắn rằng họ cũng sẽ tranh thủ bơi lội và tắm nắng ở đó, bởi vì nắng vàng và biển xanh lấp lánh mời gọi đến vậy mà!
Dưới con mắt của các họa sĩ, biển hiện lên thật muôn hình vạn trạng: mơ màng thư giãn trong tranh của Degas, xanh biếc mát lạnh trong tranh của Hopper, nóng rực sắc hè trong tranh của Derain, lộng gió chiều tà trong tranh của Monet...
Từ năm 1918, mùa hè nào Picasso cũng ở biển, đầu tiên là ở Biarritz, sau đó ở Cote d'Azur hoặc Dinard. Những chuyến nghỉ hè này đã thôi thúc ông sáng tác hàng loạt tác phẩm về những người tắm biển. Bức Những người tắm biển sáng tác vào năm 1918 tại Biarritz là bức đầu tiên của loạt tranh. Trước đó, phần lớn các bức tranh vẽ phụ nữ trên bãi biển đều là tranh khỏa thân, từ Sự ra đời của thần Vệ nữ của Sandro Botticelli cho đến Những người tắm biển của Paul Cezanne. Nhưng bức tranh của Picasso chỉ đơn giản là một cảnh tắm biển đơn giản và vui vẻ, không cầu kỳ, tỉ mỉ, với cách xử lý đơn giản để tô đậm vẻ đẹp chân thực của những tấm thân thiếu nữ gầy gò và linh hoạt, đã sở hữu một vị trí độc đáo trong số các tác phẩm của ông. Sự đơn giản của ánh sáng, những hòn đá sắc sảo và buồn tẻ, những bộ đồ tắm sặc sỡ, sự tĩnh lặng của đại dương, niềm vui của các thiếu nữ... tất cả mang đến một không khí mơ màng siêu thực như những bức tranh vẽ biển của Tanguy.
Còn Mary Cassatt lại mang đến cho chúng ta vẻ thơ ngây, yên bình của những em bé nghịch cát trên bãi biển. Sự chân thực của cảnh vật và nét tự nhiên của em bé khiến nhiều người nói rằng họ thậm chí cảm thấy ấm áp khi xem bức tranh này vào mùa đông...
Tiệc tùng
Người ta có thể tiệc tùng cả bốn mùa, nhưng những bữa tiệc mùa hè luôn có một sắc thái rất riêng, hào hứng, bốc đồng và say sưa trong những vũ điệu sôi nổi. Bữa trưa trên thuyền hội và Buổi khiêu vũ tại Moulin de la Galette của Renoir đã bất tử hóa niềm vui phóng khoáng của mùa hè trong nụ cười của những người có mặt, và cả bóng nắng lung linh tỏa sáng rạng ngời qua từng mảng màu đầy cảm hứng.
Van Gogh lại vẽ một vũ hội đêm hè ở Arles, những ngọn đèn được thắp sáng lung linh, phản chiếu trên váy áo lộng lẫy của những thiếu nữ, hết thảy đều toát lên không khí vui tươi nhộn nhịp.
Cảnh hộp đêm của Dalí thì thiếu sáng hơn, gợi lên ấn tượng suy đồi của một "cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm", lại như thể thúc giục người xem: kìa, mùa hè đang trôi qua, sao còn ngần ngại, cứ say đi!
Đi thuyền
Đi thuyền là một hoạt động được giới quý phái châu Âu ưa chuộng từ cuối thế kỷ XIX. Không khó hiểu khi nhiều họa sĩ tìm được nguồn cảm hứng khi đi chơi thuyền, hoặc ngắm cảnh những người chơi thuyền trên sông. Và đến giờ, đi thuyền vào mùa hè vẫn là một hoạt động được nhiều người yêu thích, vừa tao nhã lại vừa có tính thể thao.
Gustave Caillebotte (một họa sĩ đương thời với Renoir, là người đàn ông đội mũ vàng góc dưới bên phải của Bữa trưa trên thuyền hội) là một thành viên của Câu lạc bộ thuyền buồm danh tiếng ở Paris, rất thích chèo thuyền. Ông đã vẽ cảnh chèo thuyền trong nhiều tác phẩm ra đời khoảng năm 1877 và 1878, nổi bật có bức Chèo thuyền trên sông Yerres, thể hiện một người chèo thuyền đơn độc qua vùng nước xanh như ngọc.
Mối quan tâm đến môn chèo thuyền cũng thể hiện rõ ràng trong Đi chơi thuyền của Mary Cassatt, với những mảng màu vàng chanh và xanh lam tương phản mạnh mẽ nhưng đầy tinh tế. Hay như bức Cầu xe lửa ở Argenteuil được sáng tác sau khi Monet chuyển đến ở tại Argenteuil, một thị trấn nhỏ nhưng rất đẹp chỉ cách trung tâm Paris 11 km, vào năm 1872. Thường hoàn thành tác phẩm ở ngoài tự nhiên thay vì ở trong studio, Monet đã vẽ nhiều bức tranh phong cảnh sông nước và cây cầu xe lửa ở Argenteuil khi ngồi trên một chiếc thuyền con, và bức tranh này là một trong số đó.
Edward Hopper hẳn đã rất kỳ công mới hoàn thiện được những chuyển động của cánh buồm, con thuyền và mặt sông Hudson, để tạo nên cảm giác chân thực về sự tự do giữa bao la trời mây và sóng nước. Cánh buồm no gió lao vút đi, mang theo hơi mát lành của kỳ nghỉ hè ven sông, thổi cả vào những người xem tranh của trăm năm sau.
Nghe nhạc
Mùa hè có lẽ là thời điểm thích hợp để bạn dành nhiều thời gian hơn, không chỉ nghe nhạc, mà còn có thể tập chơi nhạc nữa. Nếu như cây đàn lyre trong tranh Klimt đã quá phức tạp, thì cây đàn guitar trong tranh Matisse là một sự lựa chọn vừa tầm hơn. Bản thân Matisse là một người hâm mộ thể loại nhạc jazz, ông đã đưa vào tranh sự pha trộn hài hòa của những màu sắc ấm nóng, khiến người xem dễ dàng tưởng tượng ra cảnh tượng một đêm hè da diết những khúc nhạc tình...
Hoặc nếu như chơi nhạc là quá khó đối với bạn, thì hãy hóa thân thành nhân vật còn lại trong tranh và lặng yên thưởng thức một "buổi hòa nhạc" tại gia. Bức tranh của Botero cũng diễn tả một cảnh tượng tương tự. Một buổi tối mùa hè nóng bức ở Colombia, người đàn ông vừa chơi guitar vừa hát, người phụ nữ đang lắng nghe, chú chó ngồi bên giường đang lắng nghe và một người qua đường cũng dừng lại bên cửa sổ để lắng nghe. Nhưng dựa vào nét mặt của những thính giả, có lẽ người đàn ông này không phải là một nghệ sĩ tài năng cho lắm...
Nhưng nếu như khúc nhạc vang lên say đắm lòng người quá đỗi, thì đừng ngồi yên đó, hãy đứng dậy, buông mình theo từng giai điệu và nhảy múa như những vũ công của Picasso!
Đọc sách
Bạn có nhớ những ngày thơ bé trốn nhà đi thuê truyện đọc? Giờ đây, giữa cuộc sống bộn bề, có mấy khi bạn dành thời gian để nhẩn nha đọc một quyển sách? Vậy thì bọn trẻ nhỏ bây giờ ham mê ti vi, máy tính và điện thoại hơn sách cũng có gì khó hiểu đâu!
Sao ta lại không học theo những danh họa xưa - họ đã tôn vinh thú đọc sách bằng cách vẽ những người đọc sách vào những ngày hè tươi đẹp, để thỏa sức tung bay trong thế giới tưởng tượng, trong sự sáng tạo mà câu chữ, ngôn từ mang lại.
Đạp xe
Nhắc đến các hoạt động mùa hè thì không thể bỏ qua việc đạp xe. Bạn có thể đua xe đạp để thỏa mãn niềm đam mê tốc độ, hoặc cứ thung dung nhẹ nhàng khám phá cảnh đẹp xung quanh. Hãy nhìn niềm vui trên khuôn mặt của những đứa trẻ trong tranh của Ernest Zacharevic mà xem!
Những đứa trẻ đạp xe là tác phẩm tranh tường do Ernest Zacharevic, một họa sĩ người Lithuania vẽ tại George Town, Penang, Malaysia. George Town được coi là một bảo tàng khổng lồ bởi nơi đây đã hợp tác cùng nhiều họa sĩ để tạo nên các tác phẩm nghệ thuật đường phố thú vị và vui nhộn, mang lại một nét đẹp đô thị vô cùng độc đáo.
Chơi thể thao
Đừng quên dành thời gian chơi thể thao để rèn luyện sức khỏe trong mùa hè. Các họa sĩ cũng thường có hứng thú với thể thao, đây là chủ đề lý tưởng để thể hiện tài năng mô phỏng các chuyển động. Ví dụ như trận đấu tennis trong tranh của Lavery: những quả bóng rải rác trên bãi cỏ, trang phục giản dị và khuôn mặt tươi cười của những người có mặt thể hiện không khí yên bình của một buổi chiều mùa hè.
Các cuộc thi đấu thể thao cũng là đề tài quen thuộc của Lawrence Toynbee, một trong số đó là cuộc đụng độ giữa Chelsea và Tottenham Hotspur tại Stamford Bridge. Ảnh hưởng mạnh mẽ từ những bức tranh vẽ các vũ công của Anthony Fry, Toynbee đã nắm bắt được tốc độ và sự năng động của một trận bóng bầu dục, như cách thể hiện chân của tiền đạo thành những vệt màu, khuôn mặt của họ mờ nhòe không rõ trong chuyển động cực nhanh của trận đấu.
Ngủ
Bạn cảm thấy vô lý? Bởi vì ai chẳng phải ngủ, quanh năm, suốt tháng, 8 giờ mỗi ngày, đâu phải chỉ đến mùa hè mới được ngủ đâu? Nhưng giữa những bận rộn quay cuồng trong cuộc sống, không phải ai cũng nhớ đến việc chăm sóc bản thân, nghỉ ngơi và thư giãn một cách hợp lý. Hãy dành chút thời gian để tặng cho mình một giấc ngủ thật sâu, thật tròn, thật đầy như người phụ nữ trong Giấc mơ của Picasso...
Paris lãng mạn, Geneva yên bình hay Vienna cổ kính và nhiều thành phố độc đáo khác là hành trình mà du khách không thể bỏ qua khi đến châu Âu. Đây đồng thời cũng là bối cảnh của nhiều bộ phim nổi tiếng.
Amsterdam, Hà Lan
Nổi tiếng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, những ngôi nhà nhỏ xinh xắn dọc theo những con phố, và đặc biệt là hình tượng cối xay gió, Amsterdam là điểm đến thơ mộng đáng mơ ước của du khách thế giới, được ví như Venice của Ý. Bên cạnh đó, những quán cà phê bán "cỏ" hay khu phố đèn đỏ nhộn nhịp thu hút sự tò mò của 4 triệu du khách mỗi năm.
Hai nhân vật chính trong The Fault in Our Stars đã có một chuyến hành trình Amsterdam đáng nhớ, gặp gỡ tác giả cuốn sách cả hai yêu thích và tham quan bảo tàng Anna Frank. Phim đã đưa khán giả khám phá vẻ đẹp cổ kính, thi vị của thành phố, đồng thời cũng lên tiếng "bào chữa" cho "tai tiếng" của nơi đây: “Có những du khách nghĩ rằng Amsterdam là một thành phố tội lỗi, nhưng thực ra nó là một thành phố tự do. Và khi được tự do, hầu hết mọi người lại tìm đến tội lỗi”.
Prague, Czech
Nếu coi những thành phố châu Âu xinh đẹp là những viên đá quý, thì Prague nổi lên như một viên kim cương đắt giá. Thủ đô của Cộng hòa Czech mang vẻ đẹp quyến rũ và ấn tượng, được bầu chọn là một trong những thành phố du lịch đáng ghé thăm nhất ở châu Âu với những lâu đài cổ tuyệt đẹp, những kiến trúc ấn tượng như phố cổ Stare Mesto và quảng trường Old Town. Đông đảo du khách đến đây còn để khám phá nền ẩm thực đặc sắc cũng như con người hiền hoà nhưng không kém phần thú vị.
Vẻ đẹp bất tử với thời gian của lâu đài Hluboká gần Prague đã được sử dụng làm bối cảnh quay cho bộ phim về ma cà rồng Underworld. Không chỉ vậy, những quảng trường và cung điện tráng lệ ở Prague cũng trở thành trường quay cho bộ phim kinh điển Amadeus, thay thế cho Vienna trong nguyên tác. Đó không phải là lần duy nhất Prague được lên phim thay cho Vienna, khi bộ phim The Illusionist cũng sử dụng lâu đài Prague, thị trấn Tábor và ngôi làng cổ tích Cesky Krumlov làm bối cảnh quay. Hiện đại hơn, cả Mission: Impossible phần 1 và Casino Royale đều chọn Prague thơ mộng làm nền cho những pha hành động bốc lửa của mình.
Budapest, Hungary
Khó mà phủ nhận sức thu hút của Budapest với du khách khi mà thành phố này được trìu mến gọi với nhiều cái tên như “Viên ngọc của Danube”, “Trái tim của châu Âu”, hay “Paris ở phía Đông”. Khác biệt hoàn toàn với vẻ yên bình hai bên dòng sông, khu trung tâm của Budapest luôn luôn sôi động, và là nơi bạn có thể tìm thấy vô số những món đồ kỳ lạ. Bên cạnh đó, thành phố này còn nổi tiếng nhờ những phòng tắm công cộng, đặc biệt là Rudas Rudas Gellért & Baths cực hút khách tham quan.
Rudas Rudas Gellért & Baths chính là địa điểm quay của bộ phim Evita. Cũng nằm bên bờ sông Danube, tòa nhà Bálna với kiến trúc hiện đại đến "vượt thời gian" lại được sử dụng trong những bộ phim khoa học viễn tưởng đình đám Blade Runner 2049 và The Martian. Tất nhiên, những công trình kiến trúc cổ kính là thế mạnh của Budapest cũng không bị bỏ phí: The Phantom of the Opera đã chọn Nhà hát Lớn Hungary làm địa điểm quay phim nhằm tạo nên một không khí u hoài, bí ẩn, tinh tế mà không kém phần lộng lẫy. Một loạt các bộ phim hành động - điệp viên cũng chọn thành phố xinh đẹp này làm bối cảnh cho mình như Spy, Atomic Blonde, Red Sparrow...
Vienna, Áo
Những vị khách du lịch đến Vienna nhất định sẽ ghé thăm lâu đài Baroque, bảo tàng Kunsthistorisches trưng bày bộ sưu tập vĩ đại về Ai Cập cổ đại, những quán rượu truyền thống ven đường, những khu vườn cây thanh lịch hay những công trình kiến trúc đương đại kết hợp với những kiệt tác của nghệ thuật trang trí. Vienna cũng là điểm đến mơ ước của những người yêu nghệ thuật khi thường xuyên tổ chức những buổi hòa nhạc cổ điển ở nhà hát thành phố - nơi Mozart ghi dấu ấn rực rỡ trong sự nghiệp của mình.
Thành phố Vienna độc đáo với sự hòa trộn cả nét đẹp văn hóa lẫn kiến trúc chính là bối cảnh của bộ phim tình cảm lãng mạn kinh điển Before Sunrise. Hai người xa lạ tình cờ gặp nhau trên một chuyến tàu đã quyết định xuống ở ga Vienna và dành cả đêm đó bên nhau, lang thang khám phá thành phố. Phần lớn các cảnh quay được thực hiện trên đường phố ở Vienna, khiến người xem có cảm giác cũng đang được theo chân nhân vật dạo quanh thành phố. Trong đó có nhiều địa điểm nổi tiếng như Wiener Riesenrad, Kleines Cafe, Cafe Sperl, Maria am Gestade, Friedhof der Namenlosen, Maria Theresien Platz và Zollamtssteg Bridge. Bất cứ du khách nào cũng có thể học theo họ và khám phá Vienna bằng cách đi bộ hoặc xe bus hai tầng hop-on hop-off.
Paris, Pháp
Người ta nói, nếu như không ghé Paris thì coi như chưa từng đến châu Âu. Paris với tháp Eiffel chính là biểu tượng của tình yêu và tình bạn nổi tiếng bậc nhất thế giới. Ghé đến thủ đô Paris hoa lệ, du khách không thể bỏ qua bảo tàng Louvre, nhà thờ Đức Bà, khu vườn Luxembourg, nhà thờ Hồi giáo Paris hay bảo tàng nghệ thuật d'Orsay. Chắc chắn sẽ mang lại cho bạn những trải nghiệm không chỉ thú vị mà còn cực kì đáng giá.
Paris nên thơ quá, nên không sao đếm xuể những bộ phim lãng mạn diễn ra ở Paris như Amélie hay Moulin Rouge!. Một trong những bộ phim nổi tiếng nhất là Midnight in Paris đan xen giữa hiện thực và kỳ ảo, không chỉ giới thiệu với khán giả những cảnh đẹp mỹ lệ ở Paris mà còn dựng lại cả một thời kỳ mộng mơ của những nghệ sĩ và triết gia đã chọn nơi đây làm nơi trú ngụ. Và không thể bỏ qua được là Before Sunset - phần 2 của Before Sunrise - lần này hai nhân vật chính tái ngộ ở Paris, và họ lại dành một ngày cùng nhau lang thang trong thành phố...
Geneva, Thụy Sĩ
Geneva nổi tiếng xinh đẹp ở Thụy Sĩ còn được mệnh danh là "thành phố xanh" với hơn 20 công viên nằm trong trung tâm. Đây cũng là điểm dừng chân nghỉ ngơi, thư giãn và cắm trại lý tưởng cho người dân và du khách. Ngoài ra, thành phố này còn nổi tiếng nhờ những lâu đài cổ tích tựa lưng vào núi và quay mặt ra sông thơ mộng nhưng lại hùng vĩ không kém như Château de Chillon, Place Bourg du Four hay khu quảng trường có tuổi đời bằng tuổi của thành phố này. Một lý do nữa kéo chân du khách đến với Geneva chính là khu bảo tàng Philippe Patek, nơi bạn sẽ được chiêm ngưỡng bộ sưu tập đồng hồ Thuỵ Sĩ khổng lồ khiến bao người thèm thuồng.
Geneva thơ mộng và thanh bình là vậy nhưng lại là địa điểm quay của nhiều bộ phim trinh thám, hình sự, tình báo nổi tiếng như The Girl with the Dragon Tattoo, Angels and Demons, Syriana, The Bourne Identity... Nhưng không vì thế mà ta có thể phủ nhận vẻ đẹp và sức sống của thành phố này, bởi vì không phải tình cờ mà nơi đây được chọn làm bối cảnh của không ít tập phim 007 đình đám như Goldeneye, The Spy Who Loved Me, On Her Majesty’s Secret Service và Goldfinger.
Bruges, Bỉ
Tương tự như Venice và Amsterdam, Bruges cũng là một thành phố kênh đào vô cùng lãng mạn, đã được liệt kê vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO từ năm 2000. Để thưởng thức trọn vẹn nhất vẻ đẹp của thành phố, du khách nên đặt tour du lịch bằng thuyền dọc theo con kênh. Hay ngồi thưởng thức bia và ẩm thực ở các quán ngoài trời ven đường cũng là một trải nghiệm thú vị không nên bỏ qua khi đến Bruges.
Kiến trúc Trung cổ đầy quyến rũ của Bruges là điểm nhấn của bộ phim In Bruges. Một sát thủ đã phải lẩn trốn ở thành phố đông du khách nhất nước Bỉ này sau một phi vụ làm ăn bất thành. Dù anh ta đã cau có và khó chịu: "Nếu tôi sinh ra ở nông thôn và bị dở hơi thì Bruges cũng ấn tượng ra phết đấy, nhưng mà không", vẻ đẹp như cổ tích của Bruges được thể hiện trong phim đã chứng minh với khán giả điều ngược lại.
Lisbon, Bồ Đào Nha
Thường bị bỏ qua trong danh sách điểm đến của các khách du lịch trước đây nhưng Lisbon đang dần thay đổi và trở thành một thành phố được yêu thích trong những năm gần đây. Ngoài đi tắm nắng và dạo quanh thành phố với lối kiến trúc tuyệt đẹp thì việc ngắm hoàng hôn từ khu Miradouro da Senhora do Monte sẽ khiến bạn không khỏi lặng người. Nếu là người đam mê mua sắm thì trung tâm thương mại Amoreiras hiện đại rực rỡ sắc màu đúng là thiên đường!
Nhưng Lisbon không chỉ là một thành phố ồn ào náo nhiệt mà còn mang trong mình một khoảng lặng buồn man mác. Như trong phim Night Train To Lisbon, khán giả sẽ được theo chân ông giáo sư già Raimund khám phá Lisbon từ một chuyến tàu đêm tình cờ và đắm chìm trong câu chuyện vui buồn của những phận người ở Lisbon từ nửa thế kỷ trước cho đến hiện tại trên nền nhạc piano và violin dìu dặt bâng khuâng.
Barcelona, Tây Ban Nha
Thành phố sở hữu một trong những đội bóng xuất sắc nhất châu Âu - Barcelona từng là chủ nhà của Thế vận hội mùa hè 1992. Nơi đây được trưng bày rất nhiều các tác phẩm nghệ thuật có giá trị và cả những tác phẩm điêu khắc sống động trên bãi biển thu hút hàng triệu triệu người tới thăm vào mỗi mùa hè. Đặc biệt là bảo tàng Picasso hay công viên Guell thì luôn nườm nượp khách, nhất là vào những ngày nắng đẹp.
Nhiều đạo diễn nổi tiếng đã thể hiện tình yêu của mình với Barcelona như Woody Allen với phim Vicky Cristina Barcelona hay Alejandro González Iñárritu với Biutiful. Cả hai bộ phim này đều có sự góp mặt của nam diễn viên gạo cội Javier Bardem. Nhưng ngoài vẻ quyến rũ của Javier Bardem, Barcelona cũng không kém cạnh khi đem đến cho khán giả những khung hình mãn nhãn về hơi thở mãnh liệt của thị trấn ven biển Santa Coloma de Gramenet và cuộc sống về đêm sôi động ở El Raval trong Biutiful, hay những quán ăn đêm trong ngõ nhỏ, những ly rượu vang trên sân thượng cùng tiếng guitar Tây Ban Nha đong đầy cảm xúc trong Vicky Cristina Barcelona.
Rome, Ý
Và không thể bỏ qua là Rome, thành phố được yêu thích nhất châu Âu của các tín đồ du lịch. Hãy đánh dấu ngay trong sổ tay du lịch các điểm đến như đền thờ Patheon, đài phun nước Trevi hay đại Thánh đường St. Peter để nếu như chỉ có ít ngày ở Rome, thì đây là những nơi bạn nhất định phải ghé qua nhé.
Những bộ phim được quay ở Rome cũng nhiều không kém Paris chút nào. Từ những bộ phim đen trắng kinh điển như The Bicycle Thieves đầy tuyệt vọng, Roman Holiday lãng mạn ngọt ngào, Nights of Cabiria đau đớn xót xa cho đến những bộ phim hiện đại như The Great Beauty trăn trở suy tư, Eat Pray Love lạc quan yêu đời hay Angels and Demons phức tạp và kịch tính, vẻ đẹp nhiều cung bậc của Rome vẫn không ngừng khiến trái tim người xem thổn thức.